Cơ sở khoa học của việc xây dựng sàn an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Print Friendly

Mục tiêu

  • Phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng sàn ASXH đảm bảo sự tiếp cận toàn dân đến các dịch vụ xã hội cơ bản và an ninh thu nhập.
  • Đánh giá thực trạng sàn an sinh xã hội ở Việt Nam.
  • Đề xuất mô hình và phương pháp định lượng xác định sàn ASXH.

Đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp xây dựng sàn an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020.

Những phát hiện chính

Sàn ASXH có mục tiêu đảm bảo quyền cơ bản của con người về thu nhập tối thiểu; y tế cơ bản; giáo dục cơ bản; nhà ở, nước sạch, nhà vệ sinh; thông tin đặc biệt đối với người yếu thế.

Sàn ASXH hướng đến trợ giúp cho 3 nhóm đối tượng chính (i. Trẻ em; ii. Người dân trong tuổi lao động nhưng thu nhập từ việc làm không đảm bảo được mức sống tối thiểu; và iii. Người cao tuổi).

Kết quả đạt được

  • Đối với trẻ em: Công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em ngày càng được cải thiện. Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm mạnh ở tất cả các vùng, bình quân cả nước giảm từ 36,7‰ (năm 2000) xuống còn 16‰ (năm 2010). Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 42‰ (năm 2000) xuống còn 25,5‰ (năm 2010); Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm mạnh qua các năm ở tất cả các vùng, miền trong cả nước, trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,8%; từ 33,1% (năm 2000) giảm xuống còn 25,5% (năm 2005) và 17,5% (năm 2010). Suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao theo tuổi) giảm rất chậm, hiện tại vẫn còn rất cao 31,9% (năm 2010). Thừa cân, béo phì ở trẻ em dưới 5 tuổi ở mức dưới 5%. Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn của phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ tính chung cả nước giảm mỗi năm 1%. Tính từ 2005-2012, hàng năm có gần 9 triệu (chiếm 90%) trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ khám chữa bệnh không phải trả tiền; Đến tháng 9/2010 đã có 3/63 tỉnh, thành phố đạt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; và 63/63 tỉnh, thành phố và tất cả các huyện trong toàn quốc (687 huyện) đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở; Các hình thức chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đa dạng và phù hợp hơn với nhu cầu của từng nhóm đối tượng, nhờ vậy mà tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc từ 40% năm 2001 tăng lên khoảng 75% vào năm 2010; Trên 42 nghìn trẻ em đang lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; trên 60 nghìn lượt trẻ em lang thang và trẻ em có nguy cơ lang thang và gia đình các em được trợ giúp dưới các hình thức khác nhau như hỗ trợ hồi gia, trở lại trường học, tiếp cận với các dịch vụ y tế, hỗ trợ học nghề, tạo việc làm, phát triển kinh tế gia đình nhằm ổn định về sinh kế và tăng thu nhập.
  • Việc hỗ trợ đối với người dân trong tuổi lao động nhưng thu nhập từ việc làm không đảm bảo được mức sống tối thiểu được thực hiện thông qua các chính sách về đào tạo nghề, hỗ trợ tín dụng ưu đãi, hỗ trợ tạo việc làm. Sau 3 năm thực hiện (2009-2012), khoảng 1,09 triệu lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề, bình quân mỗi năm có 0,36 triệu lao động. Năm 2012, có 0,49 triệu lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề, tăng 1,9 lần so với năm 2010 (0,26 triệu người). Sau thời gian học nghề, số lượng lao động nông thôn có được việc làm đạt 0,81 triệu người, chiếm 74,2% tổng số lao động được hỗ trợ học nghề. Mạng lưới đào tạo được tăng cường. Kết quả, năm 2012, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 49%, trong đó lao động qua đào tạo nghề trên 25%, bước đầu đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động; năm 2013 dự kiến tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt trên 49%, trong đó lao động qua đào tạo nghề trên 27%. Đến 31/12/2011, ngân sách các địa phương trong cả nước đã ủy thác 2.820 tỷ đồng qua NHCSXH để cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách trên địa bàn. Kết quả, đến hết năm 2011, Ngân hàng đã cho 11,4 triệu hộ gia đình được vay vốn hơn 105 nghìn tỷ đồng.
  • Đối với người cao tuổi: Tính đến năm 2009, cả nước có khoảng 1,9 triệu người cao tuổi (khoảng 22% tổng số người cao tuổi) đang hưởng hưu trí; gần 140.000 người cao tuổi cô đơn nghèo, không nơi nương tựa được hưởng trợ cấp xã hội (xấp xỉ 1,7% dân số cao tuổi); gần 5,6 triệu người cao tuổi (khoảng 60% tổng dân số cao tuổi) đang tham gia bảo hiểm y tế, trong đó hơn 60% số này có thẻ bảo hiểm y tế miễn phí.

Hạn chế

  • Hoạt động của các chương trình y tế về chăm sóc sức khỏe trẻ em chưa đạt hiệu quả mong muốn. Các cơ sở khám, chữa bệnh, nhất là tuyến huyện tuy được nâng cấp, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu và thiếu cán bộ nhi khoa, đặc biệt ở tuyến tỉnh và huyện. Mạng lưới y tế học đường chưa được củng cố, nhất là các trường ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Kiến thức về chăm sóc sức khoẻ trẻ em ở nhà trường còn thiếu. Ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa, miền núi, dân tộc thiểu số, tỷ suất trẻ em chết ở các độ tuổi cao hơn nhiều so với bình quân chung cả nước.
  • Tỷ lệ trẻ em bỏ học ở một số khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc vẫn chưa giảm, nguyên nhân chính là do học lực kém, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, điều kiện trường, lớp ở xa nơi cư trú. Vẫn còn khoảng cách về giáo dục giữa thành thị và nông thôn, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa.
  • Việc lựa chọn nghề để dạy cho lao động nông thôn ở các địa phương, cơ sở dạy nghề chưa sát hợp, nhất là nghề/kỹ thuật sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại nhiều địa phương còn thiên về chạy theo số lượng người học để giải ngân, thiếu sự tính toán trên cơ sở khoa học và kinh tế để xác định nghề cần đào tạo cho người dân; Việc triển khai chính sách tín dụng ưu đãi còn nhiều hạn chế: Đối tượng thụ hưởng, mức độ và phương thức hỗ trợ còn chưa hợp lý, thiếu thống nhất, một số nơi vẫn còn tình trạng cho vay sai đối tượng. Nhu cầu về tín dụng chính sách hiện nay rất lớn, nhưng nguồn lực thì có hạn nên Ngân hàng phải đối mặt với nhiều áp lực trong việc huy động và cân đối vốn.

Việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành văn bản pháp luật còn chậm chưa đồng bộ, còn có kẽ hở để NLĐ và người SDLĐ dễ dàng lạm dụng về BHXH. Tính công bằng trong tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH giữa các khu vực kinh tế, giữa các thế hệ vẫn chưa thực sự được đảm bảo; nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH vẫn hiện hữu. Tỷ lệ bao phủ của hệ thống ASXH đối với người cao tuổi còn rất hạn chế và chỉ tập trung vào một số nhóm người cao tuổi.

Giải pháp khuyến nghị

  • Xây dựng chuẩn nghèo, mức sống tối thiểu và các mức trợ cấp xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam; Đảm bảo mức sống tối thiểu cho mọi người dân trong Nghị quyết số 15/NQ-TW.
  • Tăng cường an sinh xã hội cho các đối tượng: Người cao tuổi, trẻ em nghèo, người thất nghiệp, người di cư, đối tượng bảo trợ xã hội, người khuyết tật….; tăng cường hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo, hướng tới BHYT toàn dân; mở rộng đối tượng tham gia BHXH thông qua việc hỗ trợ người thu nhập thấp, đối tượng yếu thế tham gia BHXH.

Xây dựng luận cứ, kinh nghiệm và các giải pháp chính sách thực hiện việc làm công; Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu hợp nhất cho các chính sách sàn an sinh xã hội và phát triển hệ thống theo dõi và đánh giá sàn ASXH từ Trung ương đến địa phương.

2012-2014   TS Doãn Mậu Diệp, Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội