Báo cáo quốc gia về lao động trẻ em năm 2012

Print Friendly

Những phát hiện chính

  • Năm 2012, ước tính nước có trên 18,3 triệu trẻ em từ 5 – 17 tuổi, trong đó 52,3% là trẻ em trai và 47,7% là trẻ em gái, chiếm 20,7% tổng dân số.
  • Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đi học mầm non đạt 93,4%; tỷ lệ trẻ em nhóm 6 – 17 tuổi đang theo học ở các cấp học phổ thông và ở các trường nghề đạt 90,3%. Tuy nhiên, trong đó vẫn còn gần 10% trẻ em nhóm 6 – 17 tuổi không đi học, trong số đó, khoảng 4,7% trẻ em chưa từng đi học.
  • Trên một nửa trẻ em tham gia làm công việc nhà với thời gian làm việc phổ biến ở mức 5 – 20 giờ/tuần. Trẻ em nông thôn tham gia làm việc nhà nhiều hơn so với trẻ em thành thị, trẻ em gái tham gia làm việc nhà nhiều hơn trẻ em trai, ở độ tuổi càng lớn thì tỷ lệ và thời gian làm việc nhà càng cao.
  • Trong tổng số trên 18,3 triệu trẻ em, có khoảng 1/6 trong số này (2,83 triệu em) đang tham gia hoạt động kinh tế (HĐKT), trong đó 42,6% là trẻ em gái. Gần 86% trẻ em HĐKT sinh sống ở nông thôn và gần 2/3 số này thuộc nhóm 15 – 17 tuổi. Tuổi bắt đầu tham gia HĐKT của trẻ em phổ biến từ 12 tuổi trở lên. Khoảng 41,6% trẻ em tham gia HĐKT không đi học (trên 2% chưa từng đi học). Khoảng 27,4% trẻ em làm việc trên 42 giờ/tuần. Trên 70% trẻ em hoạt động kinh tế trong trong nông nghiệp, 74% trẻ em làm việc dưới hình thức là lao động hộ gia đình không hưởng lương. Trẻ em tham gia vào khoảng 120 công việc cụ thể, tuy nhiên có 15 công việc
  • thu hút trên 82% tổng số trẻ em hoạt động kinh tế, trong đó chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi. Địa điểm làm việc của trẻ em chủ yếu là tại nhà, trên cánh đồng, các địa điểm khác (doanh nghiệp, đường phố, nhà hàng khách sạn, công trường xây dựng, văn phòng, mỏ đá…) chiếm tỷ lệ thấp. Mức thu nhập của hộ gia đình có trẻ em tham gia HĐKT khá cao, với khoảng 38% hộ có mức thu nhập bình quân trên 4,5 triệu đồng/tháng.
  • Có 1,75 triệu trẻ em thuộc nhóm lao động trẻ em, chiếm 9,6% dân số trẻ em và khoảng 62% tổng số trẻ em hoạt động kinh tế, trong đó 40,2% là trẻ em gái. Khoảng 67% làm việc trong nông nghiệp, 15,7% trẻ em trong khu vực công nghiệp – xây dựng và 16,7% trẻ em làm việc trong khu vực dịch vụ; theo nhóm ngành cấp II, trẻ em làm việc chủ yếu trong 111 công việc thuộc cả 3 khu vực kinh tế, nhưng tập trung chủ yếu trong 17 công việc chính (chiếm 81% tổng lao động trẻ em); một bộ phận đáng kể trẻ em làm việc trong điều kiện lao động ngoài trời, đi lại nhiều dễ bị tai nạn, nguy hiểm, điều kiện lao động quá nóng, lạnh, môi trường có hóa chất gây hại, dễ bị tai nạn, thương tích, và các tổn thương khác đến sự phát triển thể chất của trẻ em; 38,2% hộ gia đình có LĐTE có mức thu nhập bình quân trên 4,5 triệu đồng/tháng (62,1% thuộc nhóm 15 – 17 tuổi).
  • Lao động trẻ em làm 97 công việc cụ thể, trong đó có 17 công việc (gồm 11 thuộc khu vực nông nghiệp; 3 thuộc khu vực công nghiệp – xây dựng và 3 thuộc khu vực dịch vụ) tập trung trên 80% trẻ em tham gia làm việc. Địa điểm làm việc phổ biến là cánh đồng/nông trại/hoặc vườn cây; (2) tại nhà và (3) địa điểm làm việc không cố định.
  • Trong tổng số 1,75 triệu lao động trẻ em, có gần 569 ngàn em, chiếm 32,4% có thời gian làm việc bình quân trên 42 giờ/tuần. Thời gian lao động kéo dài đã ảnh hưởng đến việc tham gia học tập của trẻ em, có 96,2% số trẻ em này hiện tại không đi học. Có khoảng 1,315 triệu em, chiếm gần 75% tổng số lao động trẻ em, chiếm gần 46,5% tổng số trẻ em hoạt động kinh tế và chiếm gần 7,2% trẻ em từ 5 – 17 tuổi CÓ NGUY CƠ làm trong các nghề thuộc nhóm nghề bị cấm sử dụng lao động chưa thành niên hoặc điều kiện lao động có hại theo quy định của Thông tư số 09/TT-LB ngày 13/4/1995.

Giải pháp, khuyến nghị

  • Tiếp tục rà soát số lao động trẻ em hiện đang làm các công việc mà các công việc này có các công đoạn, điều kiện rất dễ CÓ NGUY CƠ thuộc nhóm cấm sử dụng lao động trẻ em hoặc điều kiện lao động có hại, để bảo việc các em tốt hơn.
  • Tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của quốc gia và hội nhập quốc tế trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung và vấn đề lao động trẻ em nói riêng. Tăng cường chế tài xử lý các trường hợp vi phạm sử dụng lao động trẻ em.
  • Lồng ghép giải quyết vấn đề lao động trẻ em với các chính sách phát triển kinh tế và xã hội, nhất là trong khu vực nông thôn để thực hiện xóa bỏ lao động trẻ em trên diện rộng.
  • Cần nâng cao ý thức của hộ gia đình trong việc huy động trẻ em trong hoạt động sản xuất kinh doanh; Xây dựng các gói hỗ trợ có điều kiện về giáo dục cho gia đình để trẻ em đến trường.
  • Xây dựng các chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em, thực hiện hệ thống bảo vệ trẻ em đa cấp: phòng ngừa, can thiệp và hỗ trợ giải quyết đặc biệt đối với trẻ em làm việc trong khu vực công nghiệp và dịch vụ, trẻ em thành thị, trẻ em dưới 11 tuổi. Tăng cường mối liên kết giữa trẻ em – gia đình – nhà trường – cán bộ xã hội để bảo vệ trẻ em.
  • Đẩy mạnh công tác lãnh đạo, chỉ đạo, truyền thông vận động phòng chống sử dụng lao động trẻ em; huy động được sự tham gia mạnh mẽ của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, cộng đồng và cá nhân có liên quan vào việc ngăn ngừa và xoá bỏ lao động trẻ em.

TS Nguyễn Thị Lan Hương và nhóm nghiên cứu

Tổ chức Lao động quốc tế – ILO