Những rào cản trong việc tiếp cận giáo dục của trẻ em gái vùng dân tộc miền núi phía bắc

Print Friendly

Tóm tắt: Trong những năm qua, nhiều dự án giảm nghèo hỗ trợ cho giáo dục đã được thực hiện nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục cơ bản cho người nghèo và đồng bào DTTS. Tuy nhiên, việc đầu tư hỗ trợ cho giáo dục vẫn còn những điểm hạn chế khiến việc tiếp cận giáo dục của trẻ em vùng dân tộc miền núi phía Bắc nói chung và trẻ em gái nói riêng chưa đạt như kỳ vọng. Phân tích số liệu thống kê từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 của Tổng Cục Thống Kê cho thấy trẻ em gái vùng dân tộc miền núi phía Bắc có: (i) tỷ lệ chưa bao giờ đi học cao hơn so với các vùng khác trong cả nước; (ii) tỷ lệ biết đọc biết viết thấp nhất trong cả nước; (iii) tỷ lệ biết đọc biết viết thấp hơn trẻ em trai tại tất cả các tỉnh trong cùng vùng và (iv) càng học cao trẻ em gái càng bỏ học nhiều hơn so với trẻ em trai. Nguyên nhân của tình trạng này là do: (i) điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và đường sá đi lại khó khăn; (ii) rào cản từ phía bản thân các em; (iii) rào cản từ phía nhà trường và (iv) rào cản từ phía gia đình. Bài báo đưa ra một vài khuyến nghị liên quan đến cải thiện chất lượng giáo dục, hỗ trợ cho trẻ em đi học, nâng cao nhận thức về giáo dục nhằm tăng cường việc tiếp cận giáo dục của trẻ em gái vùng dân tộc và miền núi phía Bắc.

Từ khoá: dân tộc thiểu số, tiếp cận giáo dục, trình độ học vấn

Vùng miền núi vẫn phía Bắc là vùng có tỷ lệ dân tộc thiểu số (DTTS) cao nhất trong cả nước, đồng bào DTTS chiếm đa số tại các tỉnh như: Cao Bằng (94.1 % dân số là DTTS), Hà Giang (87,2%), Lai Châu (86,1%), Bắc Cạn (85,4%), Lạng Sơn (83,2%) [1]. Kinh tế chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp, mang tính tự nhiên, tự cấp, tự túc là phổ biến, sản xuất hàng hóa chưa thực sự phát triển. Đây là khu vực có trình độ dân trí thấp, kết cấu hạ tầng yếu kém, thiếu đất sản xuất, nước sinh hoạt nghiêm trọng, trình độ cán bộ cơ sở còn nhiều bất cập và nhìn chung đời sống của người dân còn nhiều khó khăn.Phụ nữ vùng dân tộc miền núi phía Bắc thường phải gánh chịu ảnh hưởng của nghèo đói nhiều hơn so với nam giới do phụ nữ không có nhiều quyền quyết định, có trình độ học vấn thấp hơn, có ít cơ hội được tiếp cận với các nguồn lực sản xuất, dịch vụ hơn, phụ nữ ít được tiếp cận tín dụng hơn và những điều đó khiến họ trở thành nhóm đối tượng yếu thế[2].Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, vùng miền núi phía Bắc cũng được xác định là kém phát triển nhất so với cả nước, đặc biệt là công tác giáo dục phổ
thông đối với trẻ em gái người DTTS của vùng gặp rất nhiều thách thức, trở ngại đáng báo động cần phải nghiêm túc xem xét, từng bước tháo gỡ để bảo đảm công bằng, tạo điều kiện để trẻ em gái có thể tiếp cận giáo dục một cách tốt hơn góp phần gia tăng tỷ lệ đến trường của trẻ em gái người DTTS.

  1. Về chính sách giáo dục

Nhiều dự án giảm nghèo hỗ trợ cho giáo dục nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục cơ bản cho người nghèo và đồng bào DTTS. Mục tiêu của những dự án này là bảo đảm đưa dịch vụ giáo dục tới với người nghèo và đồng bào DTTS ở vùng sâu, vùng xa thông qua cung cấp nguồn lực và ban hành các chính sách về giáo dục để tăng cường cơ hội học tập như hỗ trợ học phí, hỗ trợ tiền đi lại, hỗ trợ xây dựng các trường học, phòng nội trú tại trường học với mục tiêu là mỗi xã và mỗi huyện một trường học. Bên cạnh các hỗ trợ trực tiếp từ hợp phần giáo dục, các hợp phần khác của các dự án này cũng thường có những tác động gián tiếp đến những thành quả giáo dục thông qua việc nâng cao đời sống hộ gia đình ở các vùng có chính sách.


Bảng 1: Các chính sách về hỗ trợ giáo dục cho DTTS trong thời gian gần đây

Loại hình Hợp phần trong dự án/ chương trình Mô tả (đối tượng hưởng lợi, nội dung hỗ trợ, cách tiếp cận)
Cơ sở hạ tầng (xây mới và kiên cố hóa, trang thiết bị) Chương trình 135-II 1. Đối tượng: các xã 135

2. Nguồn vốn: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương

3. Nội dung: Xây dựng trường/ phòng học cấp xã

Hợp phần NQ 30a 1. Đối tượng: các xã thuộc 62 huyện nghèo

2. Nguồn vốn: Ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, đóng góp cộng đồng, ODA, trái phiếu chính phủ

3. Nội dung: Xây dựng trường/ phòng học cấp xã; Xây dựng các lớp bán trú dân nuôi

Hỗ trợ học sinh DTTS sách vở, giảm học phí, tiền ăn QĐ 112/2007/QĐ-TTg, TT 06/2007/TT-UBDT 1. Đối tượng: con em DTTS học tại các trường mẫu giáo và các trường nội trú

2. Nguồn vốn: Ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, đóng góp cộng đồng, ODA, trái phiếu chính phủ

3. Nội dung: Hỗ trợ tiền ăn thông qua bữa ăn tại các lớp mẫu giáo và lớp nội trú, tiền mua sách giáo khoa, văn phòng phẩm

– học sinh nghèo ở các trường nội trú: 140 nghìn đồng/ tháng x 9 tháng

– Trẻ em học các lớp mẫu giáo: 70 nghìn đồng/ tháng x 9 tháng

– Hộ nghèo có con đi học 1 triệu đồng/ lần

Chính sách cử tuyển NĐ 134/2006/NĐ-CP 1. Đối tượng: học sinh DTTS đã tốt nghiệp THPT

2. Nguồn vốn: không trực tiếp cấp ngân sách mà thông qua trả lương cho giáo viên đứng lớp và cán bộ quản lý giáo dục

3. Nội dung: miễn giảm học phí; học bổng = 80% mức lương cơ bản; được vào thẳng đại học

Dạy tiếng dân tộc cho DTTS Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục cho mọi người 1. Đối tượng: học sinh DTTS

2. Nguồn vốn: Ngân sách trung ương, ODA

3. Nội dung: xây dựng chương trình học bằng tiếng dân tộc; đào tạo giáo viên dân tộc

Nguồn: UNDP Vietnam, Rà soát tổng quan các chương trình dự án giảm nghèo ở VN, 2009

Tuy nhiên, việc đầu tư hỗ trợ cho giáo dục vẫn còn những điểm hạn chế như: (i) Mức độ trùng lặp giữa các chương trình và chính sách là tương đối lớn, hậu quả của tình trạng này là một hình thức hỗ trợ lại có thể xuất hiện ở nhiều chính sách khác nhau dẫn đến những khó khăn nhất định trong việc phối hợp giữa các chính sách; (ii) Các hoạt động hỗ trợ có xu hướng tập trung vào việc cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục hơn là cải thiện chất lượng giáo dục và những lợi ích thực tế mà trẻ em DTTS nhận được: số lượng trường lớp được mở rộng nhưng cơ sở vật chất, đồ dùng học tập vẫn còn thiếu thốn, các trường học ở những xã nghèo nhất, nơi mà nhiều DTTS sinh sống, thường có cơ sở vật chất ở trong tình trạng nghèo nàn hơn nhiều so với mức trung bình cả nước, chất lượng giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu; (iii) Mặc dù có vẻ như các hoạt động hỗ trợ giáo dục cho trẻ em DTTS mang tính toàn diện nhưng trên thực tế, các hoạt động này vẫn còn thiếu hụt do nguồn lực thuộc nhiều dự án vẫn chưa đủ để đảm bảo sự hỗ trợ toàn diện cho trẻ em DTTS về giáo dục. Chẳng hạn trong việc hỗ trợ học phí: mặc dù các hộ nghèo được miễn giảm học phí nhưng trên thực tế ở nhiều nơi họ vẫn phải đóng góp tiền xây dựng trường và nhiều loại phí khác. Nhiều gia đình không thể trang trải những khoảng phụ phí này, dẫn đến việc gián đoạn học hành của trẻ em; (iv) Tình trạng thiếu giáo viên, đặc biệt là giáo viên đạt tiêu chuẩn vẫn là hiện tượng thường thấy ở các vùng miền núi.

  1. Thực trạng tiếp cận giáo dục của trẻ em gái vùng dân tộc miền núi phía Bắc qua các con số thống kê

Tình trạng chưa bao giờ đi học của trẻ em gái vùng dân tộc miền núi phía Bắc cao hơn so với các vùng khác trong cả nước. Tỷ lệ trẻ em gái chưa bao giờ đến trường của vùng miền núi phía Bắc (14.1%) cao hơn cả khu vực Tây Nguyên (11.4%) và vượt xa các vùng khác trong cả nước. Điều đó cho thấy mức độ tiếp cận giáo dục của trẻ em gái miền núi phía Bắc là thấp nhất cả nước.

fff

Hình 1: Tình trạng đi học của dân số từ 5 tuổi trở lên của phụ nữcác vùng trong cả nước,(%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Giáo dục ở VN: Phân tích các chỉ số chủ yếu theo tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2011


Tình trạng biết đọc, biết viết của trẻ em gái vùng này là thấp nhất so cả nước.Tỷ lệ biết đọc biết biết của dân số từ 15 tuổi trở lên của vùng miền núi phía Bắc thấp hơn so với các vùng trong cả nước. Trong đó, tỷ lệ biết đọc biết viết của nữ giới vùng miền núi phía Bắc (82.8%) thấp hơn cả tỷ lệ biết đọc biết viết của nữ giới vùng Tây Nguyên (85.1%) và có một khoảng cách xa so với vùng Đồng bằng sông Hồng (95.6%).


 1212

Hình 2: Tình trạng biết đọc, biết viết của dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo giới tính của vùng miền núi phía Bắc và toàn quốc, (%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Giáo dục ở VN: Phân tích các chỉ số chủ yếu theo tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2011

Ngoài ra, khoảng cách chênh lệch về tỷ lệ biết đọc biết viết giữa nam và nữ của vùng miền núi phía Bắc là 9.2 điểm %, cao nhất so với các vùng trong cả nước. Điều đó cho thấy khoảng cách giới trong tiếp cận giáo dục của vùng miền núi phía Bắc là lớn nhất trong cả nước.

 

45

Hình 3. Chênh lệch giữa nam và nữ về tỷ lệ % dân số biết đọc biết viết của dân số từ 15 tuổi trở lên theo các vùng trong cả nước, (%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Giáo dục ở VN: Phân tích các chỉ số chủ yếu theo tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2011


Tình trạng biết đọc, biết viết của trẻ em gái luôn luôn thấp hơn so với trẻ em trai tại tất cả các tỉnh trong vùng.Trong số 8 tỉnh miền núi phía Bắc có tỷ lệ DTTS lớn nhất (trên 80% dân số là DTTS), Điện Biên và Lai Châu là 2 tỉnh có khoảng chênh lệch giữa nam và nữ về tỷ lệ % dân số biết đọc biết viết của dân số từ 15 tuổi trở lên lớn nhất; còn Lạng Sơn và Bắc Cạn là 2 tỉnh có khoảng chênh lệch nhỏ nhất.


 55

Hình 4. Chênh lệch giữa nam và nữ về tỷ lệ % dân số biết đọc biết viết của dân số từ 15 tuổi trở lên theo 8 tỉnh có tỷ lệ DTTS lớn nhất (trên 80%), (%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Giáo dục ở VN: Phân tích các chỉ số chủ yếu theo tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2011

 

Ở các cấp học càng cao trẻ em gái càng bỏ học nhiều hơn so với trẻ em trai.Trình độ học vấn của nam giới vùng miền núi phía Bắc cao hơn của nữ giới vùng miền núi phía Bắc tại các cấp trình độ. Tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học và chưa tốt nghiệp tiểu học của nam và nữ không chênh lệch nhau nhiều, sự khác biệt chỉ ở các cấp học cao hơn (THCS và THPT), cho thấy có xu hướng bỏ học khi học lên cao của nữ giới.

77

Hình 5. Trình độ học vấn cao nhất đã đạt được của dân số từ 5 tuổi trở lên theo giới tính của vùng miền núi phía Bắc, (%)


Nguồn: Tổng cục Thống kê, Giáo dục ở VN: Phân tích các chỉ số chủ yếu theo tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2011


  1. Các rào cản trong việc tiếp cận giáo dục của trẻ em gái DTTS
  • Các rào cản chính đã ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận giáo dục phổ thông của trẻ em gái người DTTS tại vùng núi phía bắc đó là: Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, ảnh hưởng đến khả năng đi học

Vào mùa đông, nhiệt độ của vùng miền núi phía Bắc thường dưới 7 độ C nên rất nhiều học sinh bỏ học. Còn vào mùa lũ, việc đi lại rất khó khăn, nhiều nơi bị sạt lở, dễ nguy hiểm đến tính mạng.

Hầu hết các xã đều có điểm trường tiểu học nên điều kiện đường xá không phải là trở ngại lớn đối với các em. Nhưng khi lên cấp 2, cấp 3, các em phải đi lên thị trấn huyện mới có điểm trường. Để đến được trường, các em phải vượt qua khoảng cách tương đối xa và chủ yếu là đi bộ. Để giải quyết tình trạng đường xa các em phải trọ nhà người quen hoặc phụ huynh dựng mấy ngôi nhà tạm ven đường để các em tá túc. Việc đi lại khó khăn cộng thêm chi phí cho đi lại khiến các em ngại đến trường.

  • Rào cản từ phía gia đình

Phụ huynh chưa nhận thức đúng
tầm quan trọng của giáo dục
[3]: nhiều phụ huynh quan niệm rằng học không để làm gì nên cho con nghỉ học. Bên cạnh đó, do còn có hiện tượng tiêu cực trong việc tuyển chọn cán bộ làm việc ở các xã, nhiều phụ huynh cho rằng học xong ra trường cũng không xin được việc do các vị trí làm việc ở xã đều được dành cho con em cán bộ xã. Với những gia đình đang phải sống trong cảnh nghèo đói, sự khó khăn về kinh tế tác động đến suy nghĩ của cha mẹ học sinh, khiến họ chỉ có thể nghĩ cho tương lai gần và tập trung vào sinh kế mà ít quan tâm đến giá trị của học hành và tương lai sau này của con cái, đặc biệt là trẻ em gái.

Bỏ học do không đủ tiền đóng học phí và các khoản chi phí liên quan đến học tập: phần lớn hộ gia đình ở miền núi phía Bắc đều làm nông nghiệp, không có nghề phụ, thu nhập chính chỉ trông vào thu hoạch cây lương thực, chăn nuôi gia súc gia cầm, thu hái lâm sản trong rừng. Với nguồn thu như vậy, gia đình không có khả năng nuôi con học tiếp hết cấp 2. Kể cả nếu có đủ chi phí cho con đi học thì những gia đình DTTS thường ưu tiên cho trẻ em trai hơn, còn những trẻ em gái thì ở nhà phụ giúp gia đình.

Bỏ học do phải tham gia lao động tạo thu nhập và giúp đỡ gia đình: khi cha mẹ phải lựa chọn về chi phí cơ hội giữa việc cho con đi học và để con làm việc ở nhà, những gia đình nghèo chọn cách cho con bỏ học, để có thêm nhân lực phụ giúp lao động cho gia đình. Đặc biệt, trẻ em gái thường không được ưu tiên cho đi học bằng trẻ em trai, trẻ em gái thường phải ở nhà phụ giúp gia đình, nhất là việc nhà.

Định kiến, quan niệm của đồng bào về trọng nam khinh nữ: tại nhiều DTTS, sự ưu tiên học hành của các gia đình thường dành cho con trai hơn, do con trai là người nối dõi, đặc biệt là các dân tộc ít người và kém phát triển. Tuy nhiên, cũng có những DTTS dành sự ưu tiên học hành cho đứa con nào thông minh hơn (bất kể là trai hay gái).

Bỏ học để tảo hôn yên bề gia thất: đối với người DTTS, việc lấy vợ lấy chồng ở độ tuổi 14-15 thường do cha mẹ sắp đặt, xuất phát từ nhu cầu thiếu người lao động bên nhà trai muốn lấy thêm lao động về làm hơn là việc xây dựng hạnh phúc cho con cái. Một số gia đình khi hỏi vợ cho con, cô dâu vẫn đang học lớp 7-8. Khi hỏi cưới, gia đình nhà trai hay cam kết cưới về vẫn cho con dâu học tiếp. Nhưng thực tế, sau khi về nhà chồng, cô dâu không được đi học nữa mà chỉ ở nhà làm nội trợ. Nhà gái cũng ít khi thắc mắc bởi họ cho rằng con mình thuộc về người chồng quản lý.

  • Rào cản từ phía nhà trường

Về chương trình học: cho đến nay một chương trình học khung duy nhất ở cấp phổ thông vẫn được áp dụng cho toàn quốc, không phân biệt thành thị, nông thôn, học sinh là người Kinh hay DTTS. Mặc dù gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo đã dành 30% chương trình học phổ thông cho phép các địa phương điều chỉnh chương trình cho phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương, chương trình học vẫn chưa thực sự phù hợp với học sinh nhiều nhóm DTTS. Một số môn học khó tiếp thu, nhưng lại không thực sự hữu ích cho học sinh vùng miền núi vì vậy, dễ gây chán nản cho học sinh.

Tình trạng bạo lực học đường: của các học sinh lớn đối với học sinh lớp dưới, nhất là với các em thuộc nhóm dân tộc ít người từ các xã ở xa hoặc ở sâu trong núi ra học. Với nhiều em, bị đánh ở trường nhưng không dám cho gia đình biết vì sợ trả thù sau đó. Đối với trẻ em gái, các em còn phải đối mặt với nguy cơ bị lạm dụng tình dục.

Giáo viên còn thiếu và yếu: hiện đang là một trong những vấn đề bức xúc, chưa có lời giải ở vùng dân tộc miền núi, nguyên nhân của tình trạng này là do số trẻ đi học có xu hướng tăng lên hàng năm, công việc vất vả, trong khi thu nhập và các chế độ đãi ngộ khác cho giáo viên rất thấp, số các em chọn ngành học để thành giáo viên mầm non ít… Ngoài ra, cũng còn có một thực tế là: giáo viên dưới xuôi lên miền núi công tác, do địa hình xa xôi, cách trở, nhịp sống vùng cao ít sôi động so với đồng bằng, cộng thêm tâm lý buồn chán, nhiều người không làm chủ được mình sa vào nghiện hút và bị thải hồi. Thế nên nhiều điểm trường luôn trong tình trạng thiếu giáo viên hoặc không có số giáo viên cơ hữu cố định.

Giáo viên chưa hiểu hết được văn hóa và tâm lý của học sinh: giáo viên người Kinh lên vùng cao cắm bản, thường chỉ hai đến ba năm sau được phân công địa bàn khác hoặc về xuôi. Giáo viên ở thời gian ngắn chưa quen được với học sinh, chưa hiểu rõ phong tục tập quán, chưa hiểu biết nhiều về tiếng địa phương đã chuyển trường, trong khi học sinh bỡ ngỡ, phải làm quen giáo viên mới lại từ đầu.

Về phương pháp giảng dạy của giáo viên: giáo viên tại các trường miền núi (phần đông là người Kinh, nếu không thường là thuộc DTTS đông người tại địa phương) thường dạy qua loa, không kỹ, các em không theo kịp. Nhiều nơi giáo viên người Kinh không giao tiếp với từng cá nhân học sinh trong lớp (một phần cũng do nhiều giáo viên không biết tiếng dân tộc) mà sử dụng cách dạy tập trung, tức là nói với toàn thể học sinh trong lớp. Điều này thể hiện yếu tố chủ quan của chính giáo viên không ý thức hay cố tình bỏ qua yếu tố đa dạng văn hóa ngay trong lớp của mình. Khoảng cách giữa giáo viên (thuộc dân tộc đa số) và học sinh (thuộc nhóm dân tộc ít người) ngày càng giãn rộng do mặc cảm, tự ti của các em, dẫn đến các em ngại nói, ngại phát biểu, trong khi giáo viên dễ cho học sinh này là học không khá, sẽ ít được gọi đến, và các em cảm thấy bị cô lập dần.

  • Rào cản từ phía bản thân các em

Do tâm lý tự ti, ngại giao tiếp học tập: các DTTS thường mang tâm lý co cụm, ngại tiếp xúc và va chạm xã hội, luôn nghĩ bản thân mình là yếu kém và thụ động trước các cơ hội học tập và làm việc. Ngoài ra, cũng có thể nói, tâm lý tự ti của người DTTS một phần là bởi định kiến và sự kỳ thị của nhóm dân tộc đa số.

Khả năng nói tiếng Kinh kém khiến cho các em ngày càng học đuối dần dẫn đến chán nản, bỏ học.

Vấn đề tảo hôn: vấn đề tảo hôn của một số dân tộc như người Hmông, người Dao khác biệt ở chỗ việc lấy chồng lấy vợ sớm thường do chính các em tự đề xuất. Bởi lẽ, theo quan niệm của người H mông, con gái 16-17 tuổi mà chưa lấy chồng xem như “ế”. Suy nghĩ này không chỉ tồn tại ở phụ huynh mà cả ở các em.

Tóm lại, khi học sinh và phụ huynh không nhìn thấy khả năng tiếp cận một cơ hội khả quan mà học tập có thể đem lại thì động cơ theo học có xu hướng giảm dần, nếu không nói là vô vọng. Khi phụ huynh không có quyết tâm và khả năng đầu tư cho con em học tiếp, con em cũng không có nhiệt huyết để theo học, trong khi thực tế điều kiện gia đình khó khăn lại phải nộp đủ các khoản phí cho trường thêm chuyện trường xa, đi lại vất vả, chương trình học mới, giáo viên lạ lẫm, cách biệt,chưa nói đến việc bị bắt nạt, đánh. Tất cả các yếu tố này tác động vào các em làm chúng mất động lực và niềm tin học tập.

  1. Khuyến nghị:

– Nâng cao các chính sách cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng làm cơ sở để phát triển giáo dục .Các hỗ trợ của Chính phủ nên đưa trực tiếp tới người dân, nhưng có điều kiện (ví dụ chỉ hỗ trợ người đi học, người đi khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế…).

– Nâng cao nhận thức về giáo dục cho đồng bào DTTS

Tăng cường nhận thức của cha mẹ và cộng đồng về ý nghĩa của giáo dục đối với trẻ em nói chung và trẻ em gái nói riêng bằng các phương thức sau: sử dụng loa phát thanh tại thôn, bản; vận động sự tham gia của các tổ chức tại địa phương (hội nông dân, phụ nữ..) trong việc khuyến khích các gia đình DTTS cho con đi học.

Xóa bỏ hoặc giảm thiểu định kiến và rào cản văn hóa cản trở nhóm học sinh DTTS trong học tập: thông qua hệ thống giáo dục, truyền thông thôn bản, chương trình hành động cộng đồng, khung pháp lý để giảm thiểu các hành vi phân biệt đối xử và tăng cường nhân quyền của các nhóm thiểu số.

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào hệ thống đào tạo chính thức và tại chức cho giáo viên.

– Cải thiện chất lượng giáo dục

Nâng cao năng lực của giáo viên: đào tạo đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh, tạo môi trương học tập thân thiện cho học sinh. Đồng thời, nâng cao mức đãi ngộ cho giáo viên vùng miền núi để họ toàn tâm, toàn ý vào công tác giảng dạy.

Có cơ chế phối hợp chặt chẽ, kịp thời, thường xuyên, hiệu quả giữa nhà trường và cộng đồng trong vận động học sinh ra lớp và duy trì sỹ số.

Thúc đẩy giáo dục song ngữ (tiếng Kinh và tiếng dân tộc): cần thực hiện dạy học bằng tiếng DTTS cho học sinh DTTS nhằm khắc phục tình trạng học sinh một số nhóm DTTS khó tiếp thu bài do phải học bằng tiếng Kinh. Tuy nhiên cần chú ý đến tính đồng nhất về dân tộc ở các lớp học do có nhiều học sinh thuộc các thành phần dân tộc khác nhau cùng tham gia học chung 1 lớp sẽ dễ tạo tâm lý không tốt cho các em.

– Hỗ trợ cho trẻ em đi học

Hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh DTTS học bán trú.

Hỗ trợ học sinh bỏ học quay lại trường: kết hợp đào tạo nghề và giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông, trong chương trình giáo dục không chính quy để khuyến khích trẻ em gái đi học, trẻ em gái đã bỏ học và không có khả năng quay lại học tiếp bởi các em nhận thấy kỹ năng được học trong trường là hữu ích cho cuộc sống sau này.

CN Đỗ Minh Hải

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ LĐTBXH- UNICEF, Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em ở VN: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở VN, 20092. Đặng Thị Hải Thơ, Nguyên nhân bỏ học của trẻ em Việt Nam từ 11-18 tuổi, 2010
  2. Liên Hợp Quốc tại VN, Tóm tắt tình hình giới tại VN, 2002
  3. Tổng cục Thống kê, Giáo dục ở VN: Phân tích các chỉ số chủ yếu theo tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, 2011
  4. UBDT- UNICEF, Nghèo đa chiều của trẻ em DTTS ở Việt Nam, 2012
  5. UNDP Vietnam, Rà soát tổng quan các chương trình dự án giảm nghèo ở VN, 2009
  6. Ủy ban Dân tộc- UNDP, Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực vùng DTTS và đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi, 2010
  7. Viện Nghiên cứu kinh tế, xã hội và môi trường, Học không được hay học để làm gì? Trải nghiệm học tập của thanh thiếu niên dân tộc thiểu số, 2011.

[1] Tổng Cục Thống kê, Kết quả Tồng điều tra dân số và nhà ở 2009

[2] Liên Hợp Quốc tại VN, Tóm tắt tình hình giới tại VN, 2002

[3] Bộ LĐTBXH-UNICEF, 2009