Thực trạng nhu cầu học nghề của phụ nữ và đề xuất giải pháp triển khai đề án 295 giai đoạn 2013-2015

Print Friendly

Tóm tắt: Dạy nghề đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của lực lượng lao động nữ, tạo cơ hội tìm kiếm được việc làm có thu nhập ổn định, góp phần giảm nghèo và nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Năm 2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2020-2015” (Đề án 295). Nghiên cứu này sẽ đưa ra khuyến nghị hỗ trợ triển khai Đề án 295 một cách hiệu quả, trên cơ sở xem xét thực trạng nhu cầu học nghề của phụ nữ và đánh giá năng lực của hệ thống CSDN thuộc Hội LHPN.

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng. Lao động nữ chiếm 48,5% lực lượng lao động[1], tuy nhiên trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật của phụ nữ vẫn thấp hơn nam giới. Đây cũng là rào cản trong quá trình thực hiện bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong thị trường lao động nói riêng.

Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực phát triển dạy nghề nhằm nâng cao trình độ cho người lao động, Đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2020-2015” được ban hành năm 2010 (Đề án 295). Để chuẩn bị cho việc triển khai Đề án, Viện Khoa học Lao động và Xã hội phối hợp với Trung ương Hội LHPN Việt Nam triển khai nghiên cứu với mục tiêu: (i) Tìm hiểu thực trạng và dự báo nhu cầu học nghề của phụ nữ; (ii) Xem xét năng lực hiện tại của hệ thống CSDN thuộc Hội LHPN; (iii) Khuyến nghị nhằm thúc đẩy đào tạo nghề cho phụ nữ; khuyến nghị giải pháp triển khai hoạt động trong phạm vi Đề án 295. Nghiên cứu kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng tại địa bàn 5 xã thuộc 5 tỉnh là Bắc Ninh, Thừa Thiên – Huế, Đắk Nông, TP. HCM
và Bến Tre. Tổng số có gần 1000 đối tượng tham gia các cuộc toạ đàm, phỏng vấn sâu, điều tra định lượng với các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động nữ đã qua đào tạo nghề và người phụ nữ có nhu cầu học nghề, hỗ trợ việc làm sau học nghề. Dưới đây là một số kết quả từ nghiên cứu nói trên.

  1. Tổng quan tình hình học nghề của phụ nữ giai đoạn 2007-2010[2]

Trong thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách quan trọng về dạy nghề và hỗ trợ việc làm sau học nghề đã được ban hành, với mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước[3], đối tượng thụ hưởng các chính sách này bao gồm cả nam giới và phụ nữ. Một số chính sách còn giành ưu tiên đối với phụ nữ, đặc biệt là các nhóm phụ nữ đặc thù như người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng; hộ nghèo; hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo; người dân tộc thiểu số; người tàn tật; người trong diện thu hồi đất canh tác; phụ nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp.

anh

Hình 1. Dân số nữ từ 15 tuổi trở lên đã được học nghề năm 2007-2010 (người)

Nguồn: Tính toán từ dữ liệu điều tra lao động việc làm, Tổng cục Thống kê. Nhóm nghiên cứu ILSSA, 2012.


Kết quả triển khai chính sách trong giai đoạn 2007-2010, số người từ 15 tuổi trở lên đã được học nghề có xu hướng tăng với tốc độ tăng bình quân 9,25%/năm, nữ là 9,91%[4]. Năm 2010, có 3,74 triệu người từ 15 tuổi trở lên đã được học nghề, trong đó nữ là 1,23 triệu người, chiếm 33,5%. Cơ cấu dạy nghề đã thay đổi theo xu hướng tốt là tăng dần tỷ lệ dạy nghề dài hạn. Tỷ trọng dạy nghề dài hạn cho dân số từ 15 tuổi trở lên đã tăng từ 26,8% năm 2007 lên 39,3% năm 2010; tỷ lệ này của dân số nữ tăng chậm hơn đáng kể, từ 22,3% năm 2007 lên 27,2% năm 2010.

  1. Đặc điểm nhóm phụ nữ có nhu cầu học nghề trong mẫu khảo sát

Kết quả điều tra 500 phụ nữ, kết hợp với ý kiến thu nhận được từ các cuộc toạ đàm, phỏng vấn sâu tại 5 xã ở 5 tỉnh/thành phố cho thấy thực trạng nhận thức và nhu cầu học nghề, của phụ nữ như sau:

Trong nhóm phụ nữ có nhu cầu học nghề, nhóm 20-24 tuổi và nhóm 40-44 tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất, tương ứng là 19,4% và 16,2%. Nhóm phụ nữ 20-24 tuổi mới vào thị trường lao động, chưa có trình độ CMKT mong muốn được học nghề để tìm việc làm có CMKT. Nhóm 40-44 có nhu cầu học nghề để chuyển đổi việc làm vì nhiều lý do như: mất đất sản xuất nông nghiệp (Bắc Ninh, TP Hồ Chí Minh), bị mất việc trong các doanh nghiệp/cơ sở sản xuất do khủng hoảng kinh tế, phải thôi việc ở doanh nghiệp vì công việc không phù hợp với phụ nữ trên 40 tuổi (lắp ráp điện tử, dệt may,… không thể sử dụng lao động trên 40 tuổi do mắt kém, chân tay chậm,…). Những nhóm chiếm tỷ lệ thấp gồm nhóm dưới 20 tuổi và nhóm trên 50 tuổi. Nhóm trên 50 tuổi khó có khả năng tìm được nghề phù hợp, đúng nguyện vọng để chuyển đổi, mặt khác tuổi cũng khá cao để tham gia các khoá học nghề chính quy, cũng vì vậy rất ít phụ nữ có nhu cầu học nghề ở độ tuổi này. Nhóm phụ nữ dưới 20 tuổi ít có nhu cầu học nghề. Ưu tiên của nhóm này là (i) Tiếp tục học phổ thông, sau đó sẽ thi đại học; (ii) Nhóm đã thôi học muốn tìm việc làm, có thu nhập ngay. Đa phần các em tìm việc làm trong các khu công nghiệp gần nhà, tìm việc làm không yêu cầu lao động đã qua đào tạo (chẳng hạn, ngành lắp ráp điện tử, ngành dệt- may, ngành giày da, và một số ngành khác).

anh

Hình 2. Mẫu khảo sát phụ nữ có nhu cầu học nghề theo nhóm tuổi

Đơn vị: %

Nguồn: Khảo sát 500 phụ nữ có nhu cầu học nghề, hỗ trợ việc làm tại 5 tỉnh. Nhóm nghiên cứu ILSSA, 2012.


Về trình độ học vấn, có 83,4% phụ nữ có nhu cầu học nghề trong mẫu khảo sát đã tốt nghiệp THCS trở lên, đủ điều kiện tuyển sinh học nghề ở các cấp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Tuy nhiên vẫn còn tới hơn 16% phụ nữ mới chỉ tốt nghiệp tiểu học và chưa tốt nghiệp tiểu học, nhóm này chỉ đủ điều kiện tham gia các khoá dạy nghề thường xuyên dưới 3 tháng. Điều đáng lưu ý là có tới 42% phụ nữ mẫu điều tra tỉnh Bến Tre chưa tốt nghiệp tiểu học. Đây là khó khăn trong tiếp cận đào tạo nghề vì không đủ điều kiện xét tuyển đầu vào học nghề chính quy.

Về trình độ CMKT, có tới 85,2% phụ nữ trong mẫu khảo sát chưa qua đào tạo CMKT. Tỷ lệ này ở mẫu khảo sát Bến Tre, Đắk Nông và Bắc Ninh lên tới 96-98%.

Phân loại đối tượng theo Đề án 295. Nhóm đối tượng chính sách người có công chiếm khoảng 4% mẫu khảo sát. Nhóm phụ nữ hộ nghèo/cận nghèo chiếm 22,2% mẫu khảo sát. Có 27,2% phụ nữ đang thất nghiệp và 11,6% thiếu việc làm. Tỷ lệ phụ nữ mẫu khảo sát tỉnh Bến Tre đang thất nghiệp hoặc thiếu việc làm rất lớn, 2/3 các chị đang thiếu việc làm, thu nhập thấp và 1/5 thất nghiệp, không tìm được việc làm. Do chọn mẫu điển hình nên trong mẫu khảo sát Bắc Ninh có tới 67% phụ nữ bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, trong khi tại các địa bàn khác chỉ từ 3-8%.

  1. Một số kết quả khảo sát nhu cầu học nghề của phụ nữ

3.1 Nhận thức, hiểu biết của phụ nữ về học nghề và hệ thống CSDN

Trong những năm qua, chính quyền địa phương và Hội LHPN các cấp đã có nhiều nỗ lực trong tuyên truyền cho người dân nói chung và phụ nữ nói riêng về dạy nghề. Hầu hết phụ nữ ở các xã khảo sát là hội viên phụ nữ, tham gia sinh hoạt hội khá đều đặn, đã được phổ biến về những chính sách quan trọng trong lĩnh vực dạy nghề, đặc biệt là những chính sách ưu tiên đối với phụ nữ. Tuy nhiên, tỷ lệ chị em biết thông tin sơ bộ về các chính sách dạy nghề không cao như mong đợi, chỉ có 36,4% phụ nữ có nhu cầu học nghề biết thông tin về Đề án 1956 và 45,6% biết thông tin về Đề án 295 (Hình 3).

Số lượng người thực sự chuyển biến trong hiểu biết, nhận thức về học nghề rất ít. Mặc dù đã được tuyên truyền, phổ biến nhưng họ chưa thực sự tin tưởng việc học nghề sẽ giúp họ thay đổi được tương lai. Học nghề vẫn là lựa chọn cuối cùng đối với nhóm phụ nữ trẻ không thể thi đỗ vào đại học, cao đẳng. Phần lớn chị em vẫn cho rằng “chỉ có hai con đường chính là thoát ly học đại học, cao đẳng; hoặc ở địa phương làm nông nghiệp, làm công nhân khu công nghiệp, kinh doanh, làm nghề truyền thống,… không đi học nghề vẫn làm được những việc này”. So với nhóm phụ nữ trẻ, nhóm phụ nữ trung niên ít quan tâm hơn, hiểu biết về học nghề cũng hạn chế hơn. Phụ nữ ngoài 30 tuổi, đã lập gia đình, có con chỉ quan tâm đến thông tin về các khoá học nghề ngắn hạn dưới 3 tháng tổ chức tại địa bàn.

anh

Hình 3. Phụ nữ biết những gì về chính sách dạy nghề?

Đơn vị: %

Nguồn: Khảo sát 500 phụ nữ có nhu cầu học nghề, hỗ trợ việc làm tại 5 tỉnh. Nhóm nghiên cứu ILSSA, 2012.

anh

Hình 4. Ai định hướng nghề nghiệp, tư vấn học nghề cho phụ nữ?

Đơn vị: %

Nguồn: Khảo sát 500 phụ nữ có nhu cầu học nghề, hỗ trợ việc làm tại 5 tỉnh. Nhóm nghiên cứu ILSSA, 2012


Hiểu biết của phụ nữ về hệ thống CSDN còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng thông tin. Chỉ có 58,8% chị trong mẫu điều tra biết thông tin về một số CSDN trên địa bàn, tuy nhiên họ chỉ “nghe nói sơ qua”, không nắm vững những thông tin quan trọng như ngành nghề đào tạo, trình độ đào tạo, đối tượng ưu tiên,… của các CSDN

3.2 Định hướng nghề nghiệp, tư vấn học nghề cho phụ nữ

Việc định hướng lựa chọn nghề nghiệp, tư vấn học nghề cho phụ nữ đóng vai trò quan trọng cho việc chuẩn bị gia nhập/tái gia nhập/dịch chuyển/di chuyển trong thị trường lao động.

Có 57,2% phụ nữ trong mẫu khảo sát tự định hướng nghề nghiệp cho bản thân, chia ra (i) những người đủ khả năng tự quyết định; (ii) những người không có khả năng tự quyết định, nhưng không tìm được hỗ trợ, tư vấn bên ngoài (nhóm phụ nữ nông thôn, hộ nghèo, DTTS, trình độ thấp,… ).

Hơn 40,2% phụ nữ trong mẫu khảo sát đã được định hướng nghề nghiệp từ cán bộ địa phương, đặc biệt từ cán bộ Hội LHPN. Thông qua các buổi hội họp, sinh hoạt đoàn thể, cán bộ địa phương đã tích cực trao đổi, cung cấp thông tin, tư vấn nghề nghiệp cho phụ nữ. Chị em đánh giá cao nguồn thông tin tư vấn này vì tin tưởng vào trình độ, hiểu biết của nhóm cán bộ, tin tưởng vào nguồn thông tin chính thức, tin cậy.

Gần 10% phụ nữ trong mẫu điều tra được định hướng nghề nghiệp, việc làm qua hệ thống giới thiệu việc làm (trung tâm/doanh nghiệp/cơ sở giới thiệu việc làm, cá nhân môi giới) và 9% từ các CSDN trên địa bàn. Đây là những kênh thông tin được cả nhóm cán bộ và nhóm phụ nữ đánh giá là kênh thông tin chính thức, chuyên nghiệp, tin cậy, hiệu quả, tuy nhiên hạn chế là địa bàn hoạt động còn quá hạn hẹp, người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa khó tiếp cận được.

Phương tiện thông tin đại chúng hiện đại như tivi, đài, báo, internet,… phát triển mạnh trong thời gian qua từ thành thị tới nông thôn đã tạo thuận lợi cho phụ nữ tiếp cận thông tin giúp định hướng nghề nghiệp. Có 17,6% phụ nữ trong mẫu điều tra đã tìm hiểu thông tin từ các kênh này để định hướng nghề nghiệp cho bản thân.

Cha mẹ và nguời thân vẫn có vị trí nhất định trong định hướng nghề nghiệp cho phụ nữ (tương ứng là 11,2% và 9%). Ở những địa phương có nền tảng truyền thống, gia giáo lâu đời như Thừa Thiên-Huế thì vai trò của cha mẹ, người thân vẫn rõ nét. Tuy nhiên, ở nhiều vùng khác, vai trò của gia đình trong định hướng nghề nghiệp cho con đang có nguy cơ suy giảm. Một số bậc cha mẹ không theo kịp sự phát triển của xã hội, không cập nhật thông tin, không đủ nhận thức, hiểu biết để định hướng nghề nghiệp cho con.

  1. Nhu cầu học nghề của phụ nữ

4.1 Nghề đào tạo

Nghề được nhiều phụ nữ trong mẫu khảo sát lựa chọn (38%) vẫn thuộc lĩnh vực sản xuất nông-lâm-thuỷ sản như kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản, …. Nhóm phụ nữ này muốn gắn bó với sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên họ mong muốn thay đổi kỹ thuật sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật để có năng suất, hiệu quả kinh tế cao hơn.

Nghề được 37,2% phụ nữ mong muốn được học thuộc lĩnh vực “chế biến, chế tạo”, cụ thể là chế biến lương thực-thực phẩm, sơ chế sản phẩm nông-lâm-thuỷ sản sau thu hoạch,…. Lý do phụ nữ lựa chọn học những nghề này để chế biến các sản phẩm nông-lâm-ngư nghiệp của hộ gia đình, làm gia tăng giá trị sản phẩm, tăng thu nhập; giảm dần tình trạng bán sản phẩm thô với lợi nhuận thấp. Nghề may cũng được một số ít phụ nữ ở vùng thuần nông, nghèo, thiếu việc làm lựa chọn nhằm tìm việc làm khu công nghiệp hoặc tự mở cửa hàng may đo. Hiện tại nghề may không còn hấp dẫn do thu nhập không cao, thời gian làm việc kéo dài, bình quân trên 10 giờ/ngày.

Các nghề thuộc lĩnh vực “phục vụ cá nhân, công cộng” như nấu ăn, chăm sóc sắc đẹp, dịch vụ chăm sóc gia đình,… được 10% phụ nữ trong mẫu khảo sát lựa chọn. Lý do phụ nữ chọn nghề này vì (i) Dễ dàng tự mở kinh doanh như dịch vụ nấu cỗ thuê cho các cơ quan, tổ chức, trường học, hộ gia đình,…, mở cửa hàng ăn uống; mở cửa hàng làm tóc, chăm sóc móng, mát xa…; hoặc ra thành thị làm giúp việc hộ gia đình, chăm sóc người ốm… (ii) Học nghề này do không đòi hỏi cao về trình độ học vấn (iii) Dễ học, dễ tiếp thu do công việc rất gần gũi với công việc hàng ngày phụ nữ.

Một số nghề ít phụ nữ lựa chọn như kế toán, giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học, bán hàng, phục vụ khách sạn nhà hàng, hộ lý, điều dưỡng viên,… Lý do các nghề này đòi hỏi trình độ học vấn nhất định, thời gian học dài hơn, kiến thức phức tạp hơn.

Theo kết quả toạ đàm với nhóm cán bộ cấp tỉnh và xã thì các nghề mà phụ nữ nêu trên đây chỉ phản ánh phần nào nhu cầu học nghề của người dân do trình độ nhận thức, hiểu biết của phụ nữ hạn chế, họ chỉ biết một số nghề đang phổ biến ở địa phương.

anh

Hình 5. Phụ nữ lựa chọn học nghề gì?

Đơn vị: %

Nguồn: Khảo sát 500 phụ nữ có nhu cầu học nghề, hỗ trợ việc làm tại 5 tỉnh. Nhóm nghiên cứu ILSSA, 2012


4.2. Cấp trình độ đào tạo

Sơ cấp nghề, học nghề ngắn hạn dưới 3 tháng là lựa chọn của nhiều phụ nữ trong mẫu khảo sát (tương ứng là 46,2% và 39,2%). Lý do họ lựa chọn đào tạo nghề ngắn hạn và sơ cấp vì (i) không yêu cầu trình độ tuyển sinh đầu vào, phù hợp với nhóm phụ nữ trình độ học vấn thấp; (ii) thời gian học nghề ngắn, phù hợp với phụ nữ đã có gia đình, con nhỏ; (iii) có thể vừa học vừa làm, không phải đi học xa; (iv) chi phí ít; (v) có nhiều chính sách, chương trình/dự án hỗ trợ học nghề miễn phí; (vi) chương trình, nội dung học nghề ngắn gọn, sát với thực tiễn, dễ áp dụng vào công việc.

Nhận thức về học nghề còn hạn chế, tâm lý “trọng bằng cấp” cũng ảnh hưởng nhiều đến lựa chọn của phụ nữ về cấp đào tạo nghề. Tỷ lệ phụ nữ có nhu cầu học nghề trình độ trung cấp và cao đẳng nghề tương ứng là 12,1% và 2,5%. Nhóm này đa số ở nhóm tuổi 25 trở xuống, rất ít chị ở nhóm tuổi 25-35, có trình độ học vấn từ THCS trở lên. Hiện nay, phụ nữ có đặc điểm như đã lập gia đình, có con nhỏ, trung tuổi, ở vùng nghèo, vùng DTTS rất “ngại ngần” khi nói đến CĐ hay TC nghề.

anh

Hình 6. Phụ nữ lựa chọn cấp trình độ đào tạo nghề nào?

Đơn vị: %

Nguồn: Khảo sát 500 phụ nữ có nhu cầu học nghề, hỗ trợ việc làm tại 5 tỉnh. Nhóm nghiên cứu ILSSA, 2012


4.3. Hình thức đào tạo

Hình thức đào tạo được nhiều phụ nữ lựa chọn nhất là kèm cặp, truyền nghề 45,2% và bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề 32,8%. Nhóm phụ nữ trung tuổi, phụ nữ nông thôn, phụ nữ có trình độ thấp, phụ nữ các làng nghề truyển thống rất ưa thích loại hình đào tạo này vì phù hợp với khả năng tiếp thu, năng lực của họ.

Có 20,2% phụ nữ có nhu cầu học nghề chính quy, tập trung. Phần lớn là nhóm phụ nữ trẻ, có trình độ học vấn đạt tiêu chuẩn tuyển sinh của các trường nghề (tốt nghiệp THCS, THPT). Họ thực sự mong muốn có cơ hội thay đổi nghề nghiệp, cải thiện cuộc sống; họ chấp nhận học xa nhà, chấp nhận chương trình học tập khó khăn, thách thức hơn.

4.4. Địa điểm đào tạo

Một trong những điểm cần chú ý khi tổ chức các khoá dạy nghề cho phụ nữ là họ hầu như không muốn đi học xa nhà. Trong mẫu điều tra, chỉ có 4% phụ nữ có nhu cầu học nghề ở tỉnh khác do muốn được học ở trường nghề có uy tín, hoặc do tin tưởng ở giới thiệu của người thân, quen. 96% còn lại chỉ mong muốn được học nghề trong địa bàn tỉnh (cùng xã, cùng huyện, trong tỉnh).

Nhóm phụ nữ đã có gia đình, nhóm trên 34 tuổi đa số mong muốn được học nghề tại xã. Những vùng thuần nông như địa bàn khảo sát ở Bến Tre, 99% phụ nữ chỉ muốn được học nghề tại xã. Tham gia hình thức học nghề này, phụ nữ không phải thu xếp công việc gia đình, không bị xáo trộn lớn trong đời sống, sinh hoạt. Vì vậy, nhiều phụ nữ hơn sẽ có cơ hội được học nghề, cải thiện việc làm.

Tuy nhiên, trong trường hợp phải đi học nghề xa nhà, phụ nữ mong muốn có nơi ăn ở sinh hoạt an toàn, ổn định. Đặc biệt, đối với phụ nữ có con nhỏ, dịch vụ trông giữ trẻ tại CSDN là điều kiện thiết yếu để có thể tham gia học nghề xa nhà.


Bảng 1. Phụ nữ lựa chọn những hình thức học nghề nào?

Đơn vị: %

Hình thức đào tạo nghề Chung Bắc Ninh TT Huế Đắk Nông TP HCM Bến Tre
Tổng số 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Chính quy, tập trung 20,2 3,0 27,0 30,0 31,0 10,0
Bồi dưỡng, nâng cao, cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề 32,8 23,0 23,0 22,0 47,0 49,0
Kèm cặp, truyền nghề 45,2 74,0 47,0 44,0 20,0 41,0
Tập huấn, chuyển giao công nghệ 1,8 0,0 3,0 4,0 2,0 0,0

Nguồn: Khảo sát 500 phụ nữ có nhu cầu học nghề, hỗ trợ việc làm tại 5 tỉnh. Nhóm nghiên cứu ILSSA, 2012


4.5. Về nội dung đào tạo

Đa số chị em mong muốn được học cả lý thuyết và thực hành để có thể nắm vững nghề nghiệp và làm được nghề trong tương lai (86,8%). Cũng có 10,8% phụ nữ chỉ muốn học thực hành, do hạn chế về năng lực học tập (tuổi cao hoặc trình độ học vấn quá thấp, khó tiếp thu kiến thức lý thuyết). Tiêu biểu là nhóm phụ nữ DTTS ở Đắk Nông, do rào cản về ngôn ngữ và trình độ học vấn thấp nên họ chỉ muốn học thực hành tại chỗ, “cầm tay chỉ việc”.

4.6. Về phương pháp học nghề

Vừa học, vừa làm là phương pháp học nghề phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của số đông phụ nữ, có 67,4% phụ nữ trong mẫu điều tra lựa chọn phương pháp dạy nghề này. Phương pháp tự học có hướng dẫn phù hợp với những người có năng lực học tập, đạt được trình độ học vấn nhất định, vì vậy chỉ có 8,8% phụ nữ lựa chọn.

Phương pháp học tập trung thường có kết quả tốt, thời gian khoá học không bị kéo dài. Tuy nhiên, chỉ có 23,8% phụ nữ lựa chọn phương pháp này, thường là nhóm phụ nữ trẻ, không vướng bận nhiều công việc gia đình, muốn học tập trung để có kết quả, chất lượng tốt.

4.7. Về học phí và chi phí học nghề

Gần 81% phụ nữ trong mẫu điều tra muốn được học nghề miễn phí. Nhóm này cho rằng, học nghề là phải được hỗ trợ từ các chính sách, chương trình, dự án tiền đi lại, ăn ở, sinh hoạt, miễn học phí, v.v. Nếu không được hỗ trợ các khoản này, nhiều người sẽ quyết định không học nghề.

4.8. Khó khăn, rào cản phụ nữ học nghề

Những khó khăn, rào cản đối với phụ nữ khi quyết định học nghề liên quan đến vai trò giới thực tế trong hộ gia đình. Chị em không muốn đi học xa nhà (32,8%), lo lắng trách nhiệm nội trợ, chăm sóc con nhỏ (gần 30%) hoặc phải lo kiến tiền nuôi con (gần 30%). Kinh tế khó khăn, không có tiền trang trải chi phí học nghề cũng là rào cản đối với, gần 30% chị em. Tuổi cao (12,4%), học vấn thấp (9,2%), năng lực tiếp thu hạn chế cũng là lý do cản trợ phụ nữ học nghề.


 anh

Hình 7. Phụ nữ gặp khó khăn gì khi học nghề?

Đơn vị: %

Nguồn: Khảo sát 500 phụ nữ có nhu cầu học nghề, hỗ trợ việc làm tại 5 tỉnh. Nhóm nghiên cứu ILSSA, 2012


4.9. Mong muốn hỗ trợ để học nghề

Để tham gia học nghề, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thực tế mà chị em có nhu cầu được hỗ trợ khác nhau. Hỗ trợ cần thiết nhất là tiền để đóng học phí (52,0%), để chi tiêu sinh hoạt, ăn ở đi lại trong quá trình học nghề (60,2%). Gần 40% phụ nữ trong mẫu khảo sát cần được cung cấp thông tin, được tư vấn trước khi quyết định học nghề. Đây cũng là giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả dạy nghề cho phụ nữ, đảm bảo mỗi phụ nữ sau khi học nghề xong có khả năng cải thiện việc làm, đời sống.

Liên quan đến vai trò giới thực tế, một số chị em có con nhỏ (6%) muốn được hỗ trợ trông con nhỏ trong quá trình học nghề. Các hỗ trợ này có thể được cung cấp dưới dạng: (i) hỗ trợ tiền mặt để phụ nữ tự gửi con cho người chăm sóc trong thời gian đi học; (ii) CSDN thuộc Hội LHPN tổ chức trông trẻ cho phụ nữ trong thời gian học nghề.

  1. Thực trạng năng lực các CSDN thuộc Hội LHPN

Tính đến thời điểm nghiên cứu, có 43 CSDN thuộc Hội Phụ nữ tại 40 tỉnh/thành phố trong cả nước, trong đó có duy nhất 01 trường trung cấp nghề, còn lại là các trung tâm dạy nghề, trung tâm giới thiệu việc làm hoặc cơ sở giáo dục có đăng ký dạy nghề. Các CSDN phát triển tự phát, mô hình tổ chức bộ máy, quy mô, mức độ đầu tư,… tuỳ thuộc vào điều kiện của từng địa phương. Chưa có quy hoạch hệ thống CSDN thuộc Hội LHPN thống nhất trong toàn quốc nên khá bất cập trong công tác quản lý, phối kết hợp trong hệ thống và định hướng phát triển.

Quy mô tuyển sinh của 43 CSDN tăng bình quân hơn 10%/năm trong giai đoạn 2007-2011, đạt gần 36 ngàn lượt người năm 2011. Đào tạo sơ cấp nghề và dạy nghề ngắn hạn dưới 3 tháng chiếm tới 99%, còn lại là trung cấp nghề, chưa có CSDN nào tuyển sinh cao đẳng nghề. Các nghề đào tạo phổ biến là kỹ thuật chế biến món ăn, đan lát, may, thêu, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, chế biến lương thực, thực phẩm…. Một số nghề mới đào tạo, quy mô tuyển sinh chưa nhiều nhưng có tiềm năng phát triển trong những năm tiếp theo như dịch vụ chăm sóc gia đình (bao gồm cả dịch vụ giúp việc gia đình), điều dưỡng, dịch vụ thẩm mỹ,… Đây là những nghề đang có nhu cầu lớn cho cả thị tường trong nước và đưa đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (xuất khẩu lao động). Các CSDN đào tạo theo hình thức chính quy chỉ đạt 1/4, còn lại 3/4 đào tạo theo hình thức bồi dưỡng, kèm cặp nghề, truyền nghề, chuyển giao công nghệ.

Đội ngũ giáo viên của các CSDN mặc dù được đầu tư cả về số lượng và chất lượng trong những năm qua, tuy nhiên vẫn có 17/43 CSDN chưa có đủ giáo viên cơ hữu theo quy định.

Về cơ sở vật chất, nhìn chung chưa đáp ứng quy đinh, hầu hết các CSDN mới được đầu tư cơ sở vật chất thiết yếu như phòng học (lý thuyết, thực hành), xưởng thực hành một vài nghề cốt lõi. Một số CSDN mới thành lập hầu như chưa được đầu tư cơ sở vật chất, phải thuê địa điểm, thiết bị để tổ chức dạy nghề.

Chương trình, giáo trình đào tạo dạy nghề có 91,7% các trường chỉ có giáo trình một số nghề cốt lõi, với chất lượng tương đối tốt.

  1. Một số kết quả dự báo lực lượng lao động và lao động qua đào tạo nghề

Kịch bản tăng trưởng kinh tế nhanh với mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình vào năm 2020 trong bối cảnh giảm tốc độ tăng lực lượng lao động đòi hỏi mô hình tăng trưởng kinh tế đi vào chiều sâu trên cơ sở khai thác hiệu quả nguồn vốn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Do vậy, nhu cầu lao động qua đào tạo sẽ tăng. Dự báo đến năm 2020, tổng số lao động đã qua đào tạo đạt khoảng 40,76 triệu người, chiếm khoảng 70,0%[5] trong tổng số gần 58,23 triệu lực lượng lao động. Trong tổng số lao động đã qua đào tạo, số lao động qua hệ thống dạy nghề khoảng 32,1 triệu (bằng 55% lực lượng lao động và bằng 78,8%[6] lực lượng lao động qua đào tạo). Theo giới tính[7], tỷ lệ phụ nữ qua đào tạo nói chung và qua đào tạo nghề nói riêng vẫn thấp hơn nam giới trong thời kỳ 2011-2020. Tỷ lệ phụ nữ qua đào tạo trong tổng lực lượng lao động nữ mới đạt khoảng 35,38% năm 2015 và đạt 50,66% năm 2020. Tỷ lệ tương ứng ở nam giới là 44,21% năm 2015 và 58,88% năm 2020.

Trong cơ cấu đào tạo, dạy nghề trình độ sơ cấp sẽ chiếm 80% năm 2015 và giảm nhẹ xuống 77% và năm 2020. Tỷ lệ phụ nữ học nghề trình độ sơ cấp vẫn cao hơn so với nam giới. Năm 2015, tỷ lệ phụ nữ học sơ cấp nghề là 89,1%, giảm xuống 86,78% năm 2020. Trong khi đó, tỷ lệ này ở nam giới là 73,36% năm 2015 và giảm xuống 69,48% năm 2020. Đào tạo trình độ cao đẳng nghề vẫn chiếm tỷ trọng thấp, chỉ khoảng 5% năm 2015 và nâng lên được 8%.


Bảng 2. Dự báo số lượng và cơ cấu lao động qua đào tạo nghề phân theo cấp trình độ đào tạo và giới tính

Năm 2015 Năm 2020
Sơ cấp nghề Trung cấp nghề Cao đẳng nghề Sơ cấp nghề Trung cấp nghề Cao đẳng nghề
Số lượng (1000 người)
Tổng số    17,540        3,289    1,096 24,660      4,804      2,562
Nữ      8,244          638        370 12,084      1,006        836
Nam      9,296      2,650        726 12,577      3,798      1,727
Cơ cấu (%)
Tổng số 80.00 15.00 5.00 77.00 15.00 8.00
Nữ 89.10 6.90 4.00 86.78 7.22 6.00
Nam 73.36 20.91 5.73 69.48 20.98 9.54

Nguồn: Tính toán của Viện KHLĐXH từ số liệu điều tra LĐ-VL hàng năm của Bộ LĐTBXH và TCTK.

 


Dự báo các nghề đào tạo cho lao động nữ giai đoạn 2013-2020

Căn cứ vào Danh mục nghề trọng điểm quốc tế (26 nghề); nghề trọng điểm khu vực ASEAN (49 nghề), nghề trọng điểm quốc gia (107 nghề)[8], danh mục nghề đào tạo trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề do Bộ Lao động-TBXH ban hành[9] lựa chọn một số nghề thích hợp với phụ nữ để tập trung đầu tư.

Các nghề đào tạo cho lao động nữ giai đoạn 2013-2015: Thêu ren mỹ thuật; Mây tre đan; Bán hàng trong siêu thị; Thư ký, văn thư hành chính; Kế toán; Tin học văn phòng; Chế biến lương thực thực phẩm; Chế biến sản phẩm nông lâm ngư nghiệp; Trồng trọt, chăn nuôi; khuyến nông; Kỹ thuật vật lý trị liệu, phục hồi chức năng; Điều dưỡng; Hộ sinh; dịch vụ chăm sóc gia đình; Kỹ thuật chăm sóc tóc; Kỹ thuật chăm sóc sắc đẹp; Kỹ thuật chế biến món ăn, pha chế đồ uống, làm bánh; Nghiệp vụ nhà hàng; Nghiệp vụ lễ tân; Nghiệp vụ lưu trú; Nghiệp vụ nhà hàng;…. Bên cạnh các nghề “truyền thống” sử dụng nhiều lao động nữ từ trước đến nay, cần chú ý một số nghề mới, có triển vọng đem lại việc làm tốt hơn cho phụ nữ tầm nhìn đến 2020 như: Thiết kế sản phẩm hàng hoá, bao bì; Phiên dịch tiếng Anh; Giáo dục đồng đẳng; Quản trị kinh doanh lương thực – thực phẩm; Marketing du lịch; Hướng dẫn du lịch; Điều hành tour du lịch; Đặt giữ chỗ du lịch; Xử lý rác thải; Công tác xã hội;…

  1. Một số khuyến nghị

Khuyến nghị 1. Bộ Lao động-TBXH (Tổng cục dạy nghề) cần nỗ lực thực hiện lồng ghép vấn đề giới vào quá trình xây dựng chiến lược, chính sách, chương trình, dự án về dạy nghề, đảm bảo phụ nữ và nam giới được bình đẳng thực chất trong tiếp cận và thụ hưởng các chính sách dạy nghề.

Khuyến nghị 2. Trung ương Hội LHPN Việt Nam cần tổ chức nghiên cứu xây dựng và trình các cơ quan chức năng phê duyệt chính thức “Quy hoạch phát triển các cơ sở dạy nghề thuộc Hội LHPNVN thời kỳ 2013-2020” trong hệ thống dạy nghề quốc gia chung. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để các tỉnh/thành Hội LHPN có kế hoạch phát triển các CSDN trên địa bàn tỉnh/thành phố phù hợp với quy hoạch chung và đáp ứng nhu cầu nhân lực phát triển kinh tế-xã hội địa phương.

Khuyến nghị 3. Trung ương Hội LHPN Việt Nam cần tiếp tục kiện toàn tổ chức và thu hút các nguồn lực để đầu tư 43 CSDN hiện có đạt tiêu chuẩn quy định:

  • Từng bước cải thiện các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề (giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề) cho các CSDN thuộc Hội LHPN đáp ứng tiêu chuẩn hiện hành. Trước mắt, mỗi CSDN cần có đủ các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề cho ít nhất 3 nghề mà thị trường lao động đang có nhu cầu sử dụng nhiều lao động nữ qua đào tạo nghề. Khuyến khích chọn các nghề trọng điểm trong danh mục nghề trọng điểm quốc tế, khu vực ASEAN và quốc gia[10].
  • Về đội ngũ giáo viên: Phấn đấu đủ giáo viên cơ hữu lý thuyết và thực hành ít nhất 3 nghề (trọng điểm);
  • Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề: Phấn đấu đủ phòng học (lý thuyết và thực hành), trang thiết bị dạy nghề cho ít nhất 3 nghề (trọng điểm).
  • Đối với các CSDN thuộc Hội LHPN, cần tổ chức ký túc xá và nơi trông giữ trẻ nhằm hỗ trợ phụ nữ tham gia học nghề.

Khuyến nghị 4. Hội LHPN Việt Nam và Hội LHPN các cấp cần nghiên cứu, phổ biến và nhân rộng trong thực tiễn các mô hình phối hợp “các nhà” trong tổ chức dạy nghề và hỗ trợ việc làm cho phụ nữ, đặc biệt là nhóm phụ nữ đặc thù. Trước mắt, trong quá trình triển khai Đề án 295, cần thí điểm áp dụng 6 mô hình nói trên và rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trình nhân rộng sau này.

Khuyến nghị 5. Hội LHPN Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu, cập nhật và đề xuất các nghề mới phù hợp với các nhóm phụ nữ (nhóm tuổi, trình độ, dân tộc, kinh tế,…)

Khuyến nghị 6. Hội LHPN các cấp cần tranh thủ các nguồn lực để đào tạo, tập huấn nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở có đủ kiến thức, kỹ năng để đảm nhận công tác tư vấn hướng nghiệp, tư vấn dạy nghề và việc làm cho phụ nữ. Trước mắt, Trung ương Hội LHPN Việt Nam cần tổ chức đào tạo “đội ngũ cán bộ tư vấn nòng cốt” cho cấp tỉnh, huyện. Tiếp đó, các tỉnh/thành Hội sẽ tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ tư vấn cho cấp cơ sở (xã/phường, thôn/bản).

Trung tâm Nghiên cứu lao động Nữ và Giới, Viện Khoa học Lao động và Xã hội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Quyết định số 1956/2009/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2011-2020.
  2. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Quyết định số 103/2008/QĐ-TTg ngày 14 tháng 7 năm 2008 phê duyệt đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015.
  3. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Quyết định số 295/QĐ-TTg ngày 26 tháng 2 năm 2010 phê duyệt Đề án hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010-2015.
  4. Quốc hội khoá XI, kỳ hợp thứ 10 số 76/2006/QH11 ngày 29/11/2006, Luật Dạy nghề.
  5. Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI.
  6. Tổng cục dạy nghề, Bộ Lao động-TBXH. Báo cáo tình hình phát triển dạy nghề năm 2011.
  7. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nghị định 66/2006/NĐ-CP, ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn.
  8. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ hộ gia đình khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.

Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Chiến lược phát triển KT-XH Việt Nam 2011-

[1] Tổng cục Thống kê, Kết quả điều tra lao động – việc làm hàng năm

[2] Kết quả rà soát các tài liệu, số liệu sẵn có

[3] Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam.

[4] Sử dụng hàm LOGEST để tính tốc độ tăng bình quân hàng năm

[5] Theo Chiến lược Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 ( QĐ 579/QĐ-TTg)

[6] Theo Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 (Quyết định 1216/QĐ-TTg).

[7] Theo Chiến lược Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 ( QĐ 579/QĐ-TTg)

[8] Quyết định số 826/QĐ-LĐTBXH ngày 07/07/2011 phê duyệt nghề trọng điểm và trường được lựa chọn nghề trọng điểm để hỗ trợ đầu tư từ Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 – 2015.

[9] Danh mục nghề đào tạo trình độ trung cấp nghề, trình độ cao đẳng nghề (Ban hành kèm theo Thông tư số 17 /2010/TT-BLĐTBXH ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội)

[10] Danh mục nghề trọng điểm theo các cấp độ cho thời kỳ 2013-2015 và tầm nhìn đến 2020. Ban hành kèm theo Quyết định số 826 /QĐ-LĐTBXH ngày 7 tháng 7 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội