Thực trạng trẻ em lang thang ở Việt Nam

Print Friendly

Tóm tắt: Trẻ em lang thang (TELT) ở Việt Nam ngày càng phức tạp cả về số lượng, tính chất cũng như hình thức lang thang của trẻ, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Với nhiều nguyên nhân và lý do khác nhau, nhóm trẻ em này đã phải rời bỏ gia đình đi lang thang kiếm sống trên các thành phố lớn, các em chịu nhiều thiệt thòi và mất đi hầu hết các quyền cơ bản của mình. Bên cạnh đó cũng từ nhóm trẻ em này đã phát sinh nhiều vấn đề nhức nhối trong xã hội như: lạm dụng trẻ em, lao động trẻ em, tệ nạn, mại dâm, trộm cắp, buôn bán ma tuý … nếu không được bảo vệ giúp đỡ từ phía gia đình và xã hội các em rất dễ rơi vào hoàn cảnh tồi tệ và là nguyên nhân gây ra sự bất ổn trong xã hội.

Hiện nay, ở Việt Nam số lượng TELT cũng đã thay đổi cả về số lượng và hình thức cũng phức tạp hơn. TELT xuất hiện nhiều ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP HCM, những TELT này chủ yếu đến từ các tỉnh lẻ về thành phố kiếm sống bằng các hình thức bán hàng rong, bán vé số, nhặt ve chai… và có nguy cơ bị ngược đãi, bạo lực, xâm hại và lạm dụng rất cao. Trước đây TELT chỉ đơn thuần là trẻ em Việt Nam, thì hiện nay còn có cả đối tượng TELT là người nước ngoài (Lào, Campuchia).

Do quan niệm về TELT chưa được thống nhất, nên số liệu về TELT cũng rất khác nhau. Phần lớn các số liệu đều dựa vào các nghiên cứu nhỏ lẻ sau đó suy rộng ra, hiện nay chưa có số liệu điều tra hoặc thống kê trên toàn quốc. Từ năm 2004, khái niệm TELT thống nhất sử dụng “Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định” (Điều 13 – Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, năm 2004).

Những vấn đề liên quan đến an toàn thể chất và tinh thần của TELT như: dễ bị lạm dụng, bóc lột và bị lôi kéo vào các hành vi trái pháp luật, các em cũng thường bị đe doạ và bị chăn dắt … điều đó ảnh hưởng lớn đến sự phát triển cả về thể chất và tâm lý của các em.

  1. Thực trạng trẻ em lang thang Việt Nam giai đoạn (1996 -2014)

Những nghiên cứu thống kê ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy các con số về TELT cũng rất khác nhau. Một nghiên cứu của Bloomberg (2003) ước tính có khoảng 22,000 trẻ em đường phố tại Việt Nam, chủ yếu phân bố tại Hà Nội và TP HCM. Một số tổ chức khác lại cho rằng, con số này cao hơn nhiều (50,000 TELT vào năm 1993 và 200,000 vào năm 1997). Báo cáo thống kê từ 63 tỉnh/tp của Bộ LĐTBXH cho thấy trong năm 2008 là 28,528 em. Theo báo cáo mới nhất của Cục Bảo vệ chăm sóc Trẻ em (BVCSTE)– Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (LĐ-TBXH) năm 2013 có 15.062 em, đã giảm hẳn so với năm 2008. Trong những năm gần đây chính sách giảm nghèo của Việt Nam đã tác động tích cực đến đời sống của nhân dân, tỷ lệ nghèo đã giảm đáng kể. Vào năm 1993, tỷ lệ nghèo đói là 58% đến năm 1998 tỷ lệ này chỉ còn 37,4% và đến năm 2002 chỉ còn 28,9% (Tổng cục thống kê 1999-2004). Năm 2010 là 14,2% và hiện nay tỷ lệ này chỉ còn 5,97% (theo chuẩn nghèo của Bộ LĐTBXH năm 2014). Số lượng TELT đã giảm và không thể lên tới 200.000 em, nhưng có lẽ cao hơn 15.062 như báo cáo của Bộ LĐTBXH.


 fgfgf

  • Tình hình TELT giai đoạn từ 1996-2001

Nguồn: Cục BVCSTE – Bộ LĐTBXH

 

Giai đoạn này tình hình TELT biến động không nhiều, năm thấp nhất có 14.596 em (1996), năm cao nhất có 25.000 em (2000).


 vu beo

  • Tình hình TELT giai đoạn từ 2003-2008

Nguồn: Cục BVCSTE – Bộ LĐTBXH


Giai đoạn này, năm 2003 cả nước có khoảng 22.000 em; năm 2008 số TELT lên đến 28.528 em, đây là con số cao nhất trong vòng hơn mười năm qua mà Bộ LĐTBXH đã công bố, sự tăng đột biến này là do năm 2008 có sự suy giảm kinh tế và lạm phát ở mức cao. Tuy nhiên, con số này cũng chỉ mang tính thời điểm, vì

TELT ở Việt Nam xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, năm 2008 suy giảm kinh tế các gia đình đông con đã để con em họ ra thành phố lang thang kiếm sống trong những tháng nông nhàn hay kỳ nghỉ hè của học sinh, vì vậy năm 2008 số lượng TELT theo các tỉnh thành phố thống kê đã tăng lên rõ rệt so với các năm trước đó.

cvcvc

  • Tình hình TELT giai đoạn từ 2009-2014

Nguồn: Cục BVCSTE – Bộ LĐTBXH

Năm 2009 TELT Việt Nam còn 22,974 em thấp hơn so với năm 2008 (28.528 em); năm 2013 lại giảm xuống còn 15.062 em, và ước tính năm 2014 số TELT Việt Nam còn 13.000 em. Có rất nhiều vấn đề đặt ra đối với tình trạng TELT, tuy nhiên nổi lên một số tình hình bức xúc có liên quan đến các vấn đề xã hội cần quan tâm nghiên cứu và giải quyết:

Số lượng TELT biến động thất thường và có xu hướng tăng ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP HCM. Bên cạnh đó tổng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tính đến cuối năm 2009 là 1.537.179 em, chiến 6,5% tổng số trẻ em dưới 16 tuổi. Nếu tính cả 4 nhóm trẻ em khác (trẻ em bị buôn bán, bắt cóc; trẻ em bị ngược đãi, bạo lực; trẻ em sống trong gia đình nghèo và trẻ em bị tai nạn thương tích), tổng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 4.288.265 em, chiếm 18,2% tổng số trẻ em dưới 16 tuổi. Đây là nhóm đối tượng có nguy cơ cao trở thành TELT.

Tóm lại, TELT có rất nhiều nguy cơ tiềm ẩn như: rất dễ bị lạm dụng xâm hại, dễ bị lạm dụng bóc lột sức lao động và nguy cơ bị buôn bán … Các em hầu hết đã bỏ học, trình độ học vấn thấp vì đa số TELT bỏ học từ rất sớm, thậm chí có một số mù chữ. Theo điều tra của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, TELT từ 6-16 tuổi chưa từng đi học chiếm 4,7%; 34% bỏ học ở bậc tiểu học; 58,7% bỏ học ở cấp trung học cơ sở và 2,6% bỏ học ở cấp trung học phổ thông. Qua khảo sát TELT ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ biết chữ là 73,9%; không biết chữ là 26,1%; có 12,9% học lớp 1; 39,5% học lớp 5 trở lên và rất ít TELT có trình độ trung học phổ thông[1]. Vẫn còn 40% TELT chưa học hết tiểu học, và theo kết quả điều tra của Viện nghiê cứu Thanh niên kết hợp với Uỷ ban Dân số và Gia đình Trẻ em Việt Nam có 50% TELT dưới 15 tuổi và 25% TELT trên 15 tuổi có nhu cầu tiếp tục được đi học. Tuy nhiên nhu cầu học tập của các em rất đa dạng, không chỉ học văn hoá mà các em còn có nhu cầu học nghề. Theo báo cáo khảo sát của Hà Nội, có 46,6% TELT có trình độ từ mù chữ đến tiểu học; 51,7% có trình độ trung học cơ sở; 94,1% các em thích đi học và 71,1% thích được học nghề; 47,3 em cho rằng nếu được học nghề chắc chắn các em sẽ kiếm được việc làm tốt hơn và sẽ không đi lang thang nữa.

  1. Những khó khăn trong công tác quản lý và thu thập số liệu

Thứ nhất, về định nghĩa và cách phân loại TELT chưa được thống nhất, nhưng giả sử có sự thống nhất để sử dụng chung một định nghĩa và cách phân loại TELT, thì việc thu thập số liệu cũng không vì vậy mà dễ dàng hơn vì TELT thường hay ẩn tránh và di chuyển trên một địa bàn rộng lớn hoặc có những trẻ chỉ lang thang trong một khoảng thời gian nhất định. Sự ẩn tránh của TELT là một trong những khó khăn lớn nhất trong các cuộc nghiên cứu và điều tra. Những TELT dễ nhìn thấy như: trẻ đánh giày, trẻ ăn xin, và trẻ bán dạo … Ngoài những em này, còn có một số TELT khác khó nhìn thấy hơn như: những trẻ bán ma túy, trẻ có liên quan đến hoạt động mại dâm và những trẻ chỉ làm việc về đêm. Chính vì vậy, nếu cuộc điều tra về TELT được tiến hành vào ban ngày thì những em này sẽ không nằm trong đối tượng được điều tra (Terre des hommes Foundation 2004).

Nguồn: Cục BVCSTE – Bộ LĐTBXH

TELT tại TP HCM trong 10 năm qua đã giảm một cách rõ rệt. từ 8.000 TELT năm 2003 còn 08 em năm 2014. Năm 2004 có 8.150 TELT trên địa bàn thành phố, đến năm 2005 chỉ còn 321 em, năm 2006 có 473 em, năm 2007 chỉ còn 147 em, năm 2008 lại tăng lên một cách đột biến là 1.004 em. Theo số liệu thống kê này thì tình hình TELT của TP HCM hiện nay gần như không còn. Tuy nhiên, đây chỉ là số liệu TELT của TP HCM còn những TELT từ các tỉnh/tp khác đến TP HCM thì chưa thể thống kê được. Hiện nay ở TP HCM TELT kiếm sống một mình sẽ được công an, nhân viên công tác xã hội đưa về các trung tâm bảo trợ, trung tâm công tác xã hội để chăm sóc, dạy nghề và học văn hóa….

Thứ hai, về tính chất và hình thức lang thang của trẻ em đường phố là liên tục có sự di chuyển từ địa bàn này sang địa bàn khác, và TELT thường ẩn náu dưới nhiều hình thức khác nhau như di cư theo gia đình, lang thang mùa vụ, giúp việc gia đình, làm những công việc không chính thức vào ban đêm, tham gia vào hoạt động buôn bán ma túy, mại dâm, làm việc cho các nhà hàng dưới hình thức người thân (người nhà)…. Vì vậy, việc thu thập số liệu về TELT là một công việc khó khăn hiện nay, để kiểm soát được sự di chuyển và thay đổi của TELT, các cuộc điều tra nên được tiến hành vào nhiều thời điểm khác nhau trong năm và nhiều thời điểm khác nhau trong một ngày, sự phân bố thời gian điều tra như vậy sẽ cho phép các nhà nghiên cứu thu thập được những thông tin chi tiết về sự di chuyển của TELT và nắm bắt được xu thế chung. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các cuộc điều tra đều không được tiến hành theo hình thức này do những sự hạn chế về thời gian, chi phí và nguồn nhân lực.

Số lượng TELT luôn tăng cao nhất vào thời điểm mùa hè khi trẻ em không phải đến trường. Những trẻ sống trong các gia đình nông thôn khó khăn thường nhân dịp nghỉ hè lên thành phố làm thêm kiếm tiền phụ giúp gia đình. Các em bỏ nhà lên thành phố và tham gia vào việc bán hàng dạo hoặc nhặt rác. Theo báo cáo của Dự án hỗ trợ TELT (pha 2) Bộ LĐTBXH cho biết một ví dụ về TELT kiếm sống ở Hà Nội quê ở tỉnh Thanh Hóa, nơi có mức thu nhập bình quân hàng tháng vào khoảng 100.000 đồng, nếu làm nghề đánh dày ở Hà Nội thì thu nhập sẽ khoảng 3 triệu đến 5 triệu đồng/tháng, vì vậy trẻ thường sẵn sàng hy sinh kỳ nghỉ hè của mình để có được một khoản thu nhập tương đối dành cho gia đình. Đây là một cách lý giải rất dễ hiểu cho việc số lượng TELT tăng vọt vào thời điểm mùa hè tại các thành phố lớn.

Nguồn: Cục BVCSTE – Bộ LĐTBXH


         Cũng như TP HCM, tình hình TELT tại Hà Nội trong thời gian qua cũng biến động rất lớn, nhìn hình trên đây chúng ta thấy từ 1.500 em vào năm 2003, sau 10 năm đã giảm xuống chỉ còn 62 em vào năm 2014, năm 2008 số lượng TELT tăng đột biến từ 91 em năm 2007 lên 599 em năm 2008.

Nhìn chung trong những năm gần đây TELT tại hai thành phố là Hà Nội và TP HCM đã giảm xuống rất nhiều, vì nhiều các lý do khác nhau, Hà Nội thực hiện “năm kỷ cương hành chính” vì vậy TELT trên địa bàn thành phố cũng được rà soát, hỗ trợ đưa về với gia đình, hoặc trợ giúp đưa về các trung tâm giáo dục, dạy nghề, học văn hóa… nên tình trạng TELT ăn xin, nhặt rác, bán hàng rong đã giảm rất nhiều.

Thứ ba, nơi ở của TELT thường không cố định, phần nhiều TELT sống và làm việc trên đường phố và sống tại các khu chợ, trạm xe buýt, ga tàu, nhà hàng, một số thuê nhà trọ cùng với gia đình, bạn bè … Tuy nhiên, nơi ở này của các em cũng không cố định, khi các em di chuyển đến một địa bàn khác để kiếm sống, các em sẽ lại di chuyển chỗ ở và vì vậy thống kê dân số cũng gặp nhiều khó khăn.

Tỷ lệ trẻ em phải ngủ trên đường phố thấp hơn so với các em chung nhau thuê nhà trọ[2]. Số sống với họ hàng hoặc trong các nhà mở hoặc các cơ sở từ thiện khác chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Hầu hết TELT bỏ học từ cấp tiểu học. 32% các em là trẻ mồ côi (mất cha hoặc mẹ) và 5% là trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ. TELT thường tập trung tại các trung tâm đô thị.

Thứ tư, hoạt động của TELT cũng rất phức tạp, các em tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau như bán báo dạo trên phố, bán vé số, bán kẹo cao su, đánh giày và nhặt rác…. Các hoạt động này cũng có sự khác biệt giữa TELT ở HN và TELT ở TP HCM, bán hàng rong và bán vé số là hai nghề phổ biến nhất đối với TELT tại TP HCM, trong khi đó ở Hà Nội, hầu hết các em làm công việc đánh giày và bán hàng rong.

Thứ năm, Lý do trẻ bỏ nhà đi lang thang và các nguy cơ, hầu hết trẻ em bỏ nhà ra đi lang thang kiếm sống trên đường phố vì lý do kinh tế, và những trẻ không sống cùng cha mẹ hoặc người giám hộ được coi là nhóm dễ bị tổn thương nhất. Các em có nguy cơ dính líu đến các hoạt động không an toàn như sử dụng ma túy, bị bóc lột tình dục vì mục đích thương mại, bị buôn bán và phạm tội. Trẻ em di cư sống trên đường phố cũng là nhóm có nguy cơ cao vì các em này không có một giấy tờ tùy thân nào, do đó không thể tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội khác. Những trẻ em bị bóc lột tình dục thường bị cảnh sát đối xử như người vi phạm pháp luật và bị đưa vào các trung tâm giáo dục và lao động xã hội và đa số ở hai dạng trung tâm này đều trên 16 tuổi.

Nguồn: Báo cáo năm 2014 CBVCSTE – Bộ LĐTBXH

Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, TELT không sống cùng gia đình hoặc người giám hộ cần được đưa vào các gia đình chăm sóc thay thế hoặc các cơ sở trợ giúp trẻ em. Tuy nhiên, chính sách chủ yếu mà Nhà nước áp dụng trong thời gian gần đây là gửi trả trẻ về gia đình của trẻ (tự nguyện hoặc bắt buộc). Theo báo cáo mới nhất của Việt Nam gửi Ủy ban CRC, 84% TELT đường phố đã được trả về đoàn tụ với gia đình. Những em không xác định được gia đình hoặc nhiều lần trả về gia đình nhưng lại tiếp tục sống trên đường phố được đưa vào các Trung tâm bảo trợ xã hội hoặc các tổ chức từ thiện khác để chăm sóc trong thời gian dài hơn.

  1. Một số giải pháp hạn chế tình trạng TELT

Nhìn chung vấn đề TELT ở Việt Nam vẫn còn là một vấn đề mới nếu so sánh với các nước láng giềng khác. TELT ở Việt Nam hiện là những nạn nhân của nghèo đói và những vấn đề xã hội khác trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập quốc tế và khu vực. Xã hội muốn bao bọc và giúp đỡ các em hơn là xa lánh và e ngại như đối với các tội phạm xã hội. Nếu có TELT nào liên quan tới mốt số tệ nạn xã hội, thì chúng ta thường cho chúng là những nạn nhân của các tệ nạn xã hội hơn là những nhóm đối tượng chính gây ra các tệ nạn này. Vấn đề TELT ở Việt Nam cần được xem xét, nghiên cứu và sớm giải quyết trước khi trở nên nghiêm trọng và khó can thiệp như ở một số nước đang phát triển khác.

Để khắc phục và hạn chế tình trạng trẻ em đi lang thang, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để hạn chế, giúp TELT hồi gia bền vững, đảm bảo các quyền cơ bản về bảo vệ và phát triển toàn diện cho các em như: chính sách trợ giúp trẻ em, trực tiếp đối với TELT. Tuyên truyền phổ biến pháp luật, chính sách đối với trẻ em, đẩy mạnh phát triển kinh tế thông qua các chương trình giảm nghèo, tạo việc làm… nhằm tạo mọi điều kiện để các em được sống với cha mẹ, người thân, quê hương làng xóm. Đối với những trẻ em không còn gia đình, Nhà nước đã có chính sách đưa vào các trung tâm bảo trợ xã hội hoặc tìm các gia đình thay thế cho các em.

Cùng với việc thực hiện các chính sách trợ giúp TELT, thời gian qua các hoạt động giáo dục gia đình cũng được các cấp, ngành quan tâm, hiện nay xu thế gia đình hạt nhân ngày càng phát triển, ngay cả trong các gia đình truyền thống đa thế hệ, sự phân cách về quan điểm giáo dục trẻ em giữa cha mẹ và ông bà cũng tạo ra những tác động không nhỏ đến việc hình thành những thái độ, phản ứng của trẻ trong việc ứng xử với những người xung quanh. Tổ chức cuộc sống gia đình có tình cảm, có kỷ luật, nâng cao nhận thức của bố mẹ về giáo dục và hiểu biết tâm lý con em là một trong những giải pháp hữu hiệu ngăn ngừa TELT, cụ thể: Cha mẹ hãy thể hiện tình cảm của mình; quan tâm đến những nhu cầu căn bản của trẻ; xây dựng một sự gắn bó ấm áp; dạy con biết cách để đối phó với thực tế; khuyến khích tinh thần đồng cảm và nghĩ đến người khác; biểu lộ bằng hành động cụ thể.

Quan tâm đến giáo dục trong nhà trường vì hoạt động chủ đạo của thanh thiếu niên là hoạt động học tập, hoạt động này được diễn ra trong môi trường giáo dục, trong các mối quan hệ thầy trò, bạn bè. Những suy nghĩ tích cực về môi trường học tập và thầy cô giáo là những yếu tố rất tốt để tạo sự cân bằng tâm lý cho thanh thiếu niên. Tuy nhiên, những áp lực về việc học thêm, về mong muốn thái quá của một số phụ huynh đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của nhiều em. Bên cạnh đó còn có một tỷ lệ không nhiều những thanh thiếu niên bị kỷ luật, bị khiển trách, những trường hợp này đã tạo nên những nguy cơ bỏ học cao. Khi không còn đến trường, mối quan hệ bạn bè, thầy cô không còn tồn tại, cha mẹ trách mắng. Đây cũng là lý do trẻ bỏ nhà tham gia nhóm bạn đường phố. Vì vậy, giáo dục nhà trường cần tính đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng và trình độ nhận thức của học sinh, tạo mọi điều kiện để các em gắn bó với trường, tham gia vào các mối quan hệ trong nhà trường.

Muốn hỗ trợ tốt cho TELT, cần tổ chức cho các em có những hoạt động cộng đồng, hoạt đồng theo nhóm, giáo dục kỹ năng sống cho các em. Giúp các em tự tổ chức các hoạt động sinh hoạt trong nhóm TELT. Tổ chức các chương trình vui chơi giải trí qua đó giáo dục thái độ và cách sống tích cực cho các em. Giới thiệu trẻ đến các trung tâm từ thiện của xã hội với điều kiện tự nguyện, không ép buộc. Giúp các em vào các lớp học tình thương, học nghề…

Củng cố và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em ở các cấp. Tăng cường theo dõi giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em tại cơ sở để phát hiện và ngăn ngừa kịp thời mọi hành vi vi phạm quyền trẻ em.

Xây dựng và nhân rộng mô hình giúp đỡ TELT hồi gia bền vững, ngăn chặn trẻ em đi lang thang qua việc giáo dục pháp luật đối với việc bảo vệ chăm sóc trẻ em, tạo điều kiện trợ các gia đình có TELT và nguy cơ lang thang trong diện hộ nghèo, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, hạn chế ngăn ngừa TELT.

Trong điều kiện hiện nay, thực thi những giải pháp nêu trên có khả năng tạo dựng cơ hội học tập không chỉ cho TELT mà còn cho trẻ em có nguy cơ lang thang ở những khu vực nghèo, giải quyết có hiệu quả tình trạng thất học đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở nước ta hiện nay.

2014 – ThS Đỗ Thị Thanh Huyền, CN Quách Thị Quế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em, 2004.
  2. Công ước quốc tế về quyền trẻ em
  3. Báo cáo tổng hợp của Sở LĐTBXH TP. HCM.
  4. Báo cáo tổng hợp của Bộ LĐTBXH.
  5. Hong D.K. and Kenichi Ohno (2005) Street Children in Viet Nam: Interactions of Old and New Causes in a Growing conomy Viet Nam Development Forum and National Graduate Institute for Policy Studies.
  6. Báo cáo điều tra quốc gia về lao động trẻ em, 2012, Bộ LĐTBXH
  7. Bộ LĐ-TB&XH và UNICEF Việt Nam (2009) Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam
  8. International Bureau for Childen’s Rights (2006) Making Childen’s Rights Work-Country Profiles on Combodia, Sri Lanka, Timor leste in Viet Nam.
  9. International Bureau for Children’s Rights (2006) Sđd.

[1] Chỉ tiêu BVTE năm 2012-Cục BVCSTE Bộ LĐTBXH

[2] Dương Kim Hồng – 2005