Lao động nước ngoài ở việt nam thực trạng và những vấn đề đặt ra

Print Friendly

Tóm tắt: Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu vấn đề di cư quốc tế là mối quan tâm của nhiều quốc gia. Thị trường lao động Việt Nam cũng trở lên linh hoạt và đa dạng hơn. Dòng lao động nước ngoài vào Việt Nam ngày càng đông hơn. Bài viết này nhằm đánh giá thực trạng lao động nước ngoài ở Việt Nam, tìm ra những vấn đề bức xúc trong quản lý lao động nước ngoài và đưa ra các hàm ý chính sách về quản lý lao động nước ngoài.

  1. Vai trò lao động nước ngoài ở Việt Nam

Trong xu thế hội nhập toàn cầu, nền kinh tế thế giới đang gặp nhiều khó khăn, dòng lao động nước ngoài vào Việt Nam vẫn không ngừng gia tăng trong những năm gần đây. Theo báo cáo của các Sở
Lao động-Thương binh và xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, số lượng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong các năm 2010, 2011 và 2012, cụ thể như sau:


 

Bảng số 1. Số lượng lao động nước ngoài tại Việt Nam

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Số lượng (người) Tỷ lệ tăng (%) Số lượng (người) Tỷ lệ tăng (%) Số lượng (tại thời điểm tháng 7) Tỷ lệ giảm (%)
56.929 2,7 78.440 32,52 77.087 1,7

Nguồn: Tổng hợp số liệu báo cáo của các Sở LĐTBXH tại thời điểm tháng 7 năm 2012

Lao động nước ngoài vào Việt Nam tăng nhanh do nhiều nguyên nhân, nhưng có hai nguyên nhân chính ảnh hưởng mạnh đến dòng di chuyển LĐNN vào Việt Nam:

  • Thứ nhất, do đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam tăng nhanh dẫn đến nhu cầu lao động người nước ngoài vào việt Nam làm việc tăng lên
  • Thứ hai, Việt Nam có nhiều ngành, nhiều lĩnh vực mới đòi hỏi người lao động nước ngoài có kinh nghiệm và có chuyên môn mới đảm đương được công việc mà nhân lực trong nước chưa thể đáp ứng được.

Vấn đề lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam cũng tồn tại nhiều cơ hội và thách thức, trước hết, những cơ hội do đối tượng lao động này mang lại:

Một là, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh.

Hai là, tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Ba là, tạo môi trường cạnh tranh giữa lao động Việt Nam với lao động nước ngoài.

Bốn là, góp phần đào tạo nhân lực tại chỗ theo tương tác thẩm thấu.

Bên cạnh những cơ hội, lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam kéo theo nhiều tác động tiêu cực, nhiều thách thức như:

Một là, làm giảm thu nhập yếu tố thuần (NX) trong tổng thu nhập quốc gia (GNI). Người lao động nước ngoài đến Việt Nam làm việc họ có thu nhập và được chuyển về nước phần thu nhập còn lại. Chính điều này làm giảm thu nhập yếu tố thuần trong tổng thu nhập quốc gia; kết quả là làm giảm tổng thu nhập quốc gia.

Hai là, du nhập lối sống và văn hoá ngoại lai không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của người Việt, làm sai lệch các chuẩn mực đạo đức, văn hoá truyền thống. Một số lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc, họ mang theo văn hoá của dân tộc và đất nước họ. Cùng với những yếu tố văn minh, hiện đại; đồng thời họ cũng mang theo lối sống, văn hoá độc hại không phù hợp với thuần phong, mỹ tục và bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.

  1. Thực trạng lao động nước ngoài ở Việt Nam

Thị trường lao động trong điều kiện nền kinh tế mở cửa đã tạo ra dòng di chuyển lao động quốc tế ngày càng sôi động hơn, lao động nước ngoài vào Việt Nam ngày một tăng. Theo báo cáo của các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, số lượng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam năm 2010 là 56.929 người tăng 2,7% so với năm 2009; Năm 2011 tăng lên đến 78.440 người tăng so với năm 2010 là 32,52% và trong 7 tháng đầu năm 2012 tỷ lệ này giảm 1,7%. Lực lượng Lao động nước ngoài vào Việt Nam tập trung ở một số thành phố lớn, TP. Hồ Chí Minh là nơi có số LĐNN đông nhất chiểm 23,43%, tiếp đó là Hà Nội có khoảng 12,73%.


 

Bảng số 2. Một số địa phương có số lượng lớn lao động nước ngoài                                                                    

STT Tỉnh, TP Tổng số

(người)

Tỷ lệ trên tổng số LĐNN (%)
1 TP Hồ Chí Minh 18.065 23,43
2 Hà Nội 9.812 12,73
3 Kiên Giang 9.696 12,58
4 Bình Dương 8.654 11,23
5 Đồng Nai 5.943 7,71
6 Quảng Ninh 2.301 2,98
7 Bắc Ninh 2.000 2,56
8 Hải Phòng 2.732 3,54
9 Bà Rịa – Vũng Tàu 1.431 1,86
10 Hải Dương 1.138 1,48

Nguồn: Tổng hợp số liệu báo cáo của các Sở LĐTBXH tại thời điểm tháng 7 năm 2012

Về quốc tịch của lao động nước ngoài: lao động nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam từ hơn 60 quốc gia. Xu hướng LĐNN từ các quốc gia Châu Á đến Việt Nam làm việc vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, đặc biệt là lao động Trung Quốc, Đài Loan chiếm khoảng 58% tổng số người nước ngoài; lao động nước ngoài mang quốc tịch Châu Âu (Anh, Pháp…) chiếm khoảng 28,5% và các nước khác chiếm 13,5%.

Về giới tính và độ tuổi của lao động nước ngoài: nam chiếm 89,9% tổng số lao động nước ngoài; lao động nước ngoài có độ tuổi từ 30 trở lên chiếm 86%.

Đa phần lao động nước ngoài ở nhóm tuổi trung niên từ 25-44 tuổi (70%). Nhóm 45-54 tuổi chiếm gần 18%. Nhóm tuổi trẻ nhất, từ 17-24 chỉ có 2,2% và nhóm từ 60 tuổi trở lên chỉ chiếm 6,3%. Điều này phản ánh thực tế là Việt Nam đang “nhập khẩu” Lao động có trình độ CMKT cao, chuyên gia,… vì vậy số lượng LĐNN ở nhóm tuổi trẻ nhất và nhóm cao tuổi chỉ chiếm tỷ trọng thấp. (Theo kết quả điều tra của đề tài KX.02.01/11-15)


Về trình độ học vấn phản ánh nhu cầu lao động nước ngoài trình độ cao để bù đắp “khoảng trống” của thị trường lao động trong nước. Có 82,6% LĐNN trong mẫu khảo sát có trình độ đại học trở lên và gần 6% có trình độ cao đẳng và cao đẳng nghề.

Tuy nhiên vẫn có một tỷ lệ nhỏ là nghệ nhân, thợ lành nghề của các nghề truyền thống, còn lại là nhóm LĐNN không đủ điều kiện vẫn vào Việt Nam làm việc theo kênh phi chính thức.

LĐNN phân theo trình độ học vấn cao nhất đạt được

           Biểu đồ 1. LĐNN phân theo trình độ học vấn cao nhất đạt được

                                             Đơn vị: %

        Nguồn: Đề tài cấp nhà nước KX.02.01/11-15 – Kết quả khảo sát tại 9 tỉnh/thành phố, ILSSA, 2012.

     Về trình độ chuyên môn kỹ thuật có gần 70% là chuyên gia trong các lĩnh vực; nghệ nhân trong các ngành nghề truyền thống chiếm 1,05%. Đội ngũ có kinh nghiệm làm việc trên 5 năm chiếm 13,55%, đây là số lao động không xác định được rõ trình độ vì không có bằng cấp đã tạo kẽ hở cho doanh nghiệp đưa LĐNN vào làm việc.

                              Bảng số 3: Trình độ chuyên môn của lao động nước ngoài

STT Nội dung Số lượng (người) Tỷ lệ(%)
  Tổng số lao động nước ngoài, trong đó: 77.087 100
1 Từ đại học trở lên 51.458 66,75
2 Nghệ nhân ngành nghề truyền thống 809 1,05
3 Kinh nghiệm làm việc trên 5 năm 10.448 13,55
4 Khác 14.372 18,65

Nguồn: Tổng hợp số liệu báo cáo của các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội,2012

Theo ngành nghề SX-KD-DV, số ngành nghề chiếm tỷ trọng lớn như “Khoa học công nghệ, giáo dục y tế, quản lý nhà nước,…” chiếm gần 25%;
“Công nghiệp chế biến chế tạo” 22,2%, “Xây dựng” 13%, “Khách sạn, nhà hàng” gần 12%,… Các ngành nghề khác chỉ chiếm từ 1-5%.


Quy mô DN 

Biểu đồ 2. Quy mô DN/tổ chức theo ngành nghề SX-KD-DV (Đơn vị: %)

             Nguồn: Đề tài cấp nhà nước KX.02.01/11-15 – Kết quả khảo sát tại 9 tỉnh/thành phố, ILSSA, 2012.


Về vị trí làm việc, 20,6% LĐNN là quản lý, giám đốc điều hành, trưởng đại diện các tổ chức quốc tế, thương mại và các hình thức hợp tác quốc tế khác ở Việt Nam. 29,1% LĐNN trong mẫu khảo sát là chuyên gia, phụ trách các công việc đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao mà lao động Việt Nam chưa đảm nhận được và 0,5% là nghệ nhân trong các nghề thủ công truyền thống. Các nhóm LĐNN nói trên về cơ bản đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật để vào Việt Nam làm việc. Tuy nhiên, cũng còn quá nửa LĐNN đang đảm nhận các công việc mà lao động trong nuớc có thể đáp ứng được. Thậm chí, có 2,7% LĐNN chỉ là lao động chưa qua đào tạo (lao động phổ thông).


Vị trí làm việc của LĐNN

Biểu đồ 3. Vị trí làm việc của LĐNN (Đơn vị: %)

        Nguồn: Đề tài cấp nhà nước KX.02.01/11-15 – Kết quả khảo sát tại 9 tỉnh/thành phố, ILSSA, 2012.

Thực tế cho thấy số lượng LĐNN đang làm các công việc giản đơn giành cho lao động chưa qua đào tạo (LĐ phổ thông) còn lớn hơn so với mẫu khảo sát ở hầu hết các tỉnh/thành phố. Hầu hết những lao động này đi theo các công trình/dự án do nước ngoài đầu tư hoặc trúng thầu trong lĩnh vực xây dựng, khai khoáng,… như xây dựng nhà máy, xây dựng công trình giao thông, khai thác mỏ,…LĐNN trình độ thấp vào Việt Nam làm việc đã lợi dụng kẽ hở trong pháp luật quy định “chuyên gia/lao động có kinh nghiệm trong ngành nghề” đạt điều kiện làm việc ở Việt Nam; sử dụng giấy thông hành tạm thời để đi theo nhà thầu nước ngoài làm việc tại các công trình/dự án tại Việt Nam; hoặc sử dụng visa du lịch rồi ở lại Việt Nam tìm việc làm;…( Kết quả toạ đàm, phỏng vấn sâu các cơ quan quản lý và doanh nghiệp)

  1. Thực trạng chính sách và việc thực hiện chính sách đối với LĐNN

Về tình hình cấp giấy phép lao động của người nước ngoài

Có 67,15% LĐNN đã được cấp giấy phép lao động tại Việt Nam theo đúng quy định của pháp luật. Đang làm thủ tục và chưa được cấp giấy phép lao động chiếm 32,85%. Còn 3,44% LĐNN không có giấy phép lao động.


             Bảng số 4: Tình hình cấp giấy phép lao động của lao động nước ngoài

STT Nội dung Số lượng

(người)

Tỷ lệ

(%)

  Tổng số lao động nước ngoài, trong đó: 77.087 100
 

   1

Số người thuộc diện cấp giấy phép lao động

Trong đó:

– Đã được cấp giấy phép lao động

– Đang làm thủ tục và chưa được cấp giấy phép lao động

74.438

49.983

24.455

96,56

67,15

32,85

2 Không thuộc diện cấp giấy phép lao động 2.649 3,44

           Nguồn: Tổng hợp số liệu báo cáo của các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội

Qua toạ đàm với đại diện các cơ quan quản lý nhà nước cho thấy, một bộ phận LĐNN không đủ điều kiện làm việc tại Việt Nam đã tìm cách “lách” quy định của pháp luật bằng cách sử dụng giấy thông hành có thời hạn 90 ngày (dưới 3 tháng), xin VISA du lịch,…

Về thủ tục cấp giấy phép lao động, có 76,4% LĐNN cho rằng không gặp khó khăn gì trong quá trình xin phép. Tuy nhiên, vẫn còn hơn 19% LĐNN cho rằng thủ tục cấp phép khá rườm rà, họ phải đi lại nhiều lần tới các cơ quan chức năng mới hoàn thành thủ tục.

Gần 95% LĐNN được doanh nghiệp/tổ chức sử dụng lao động làm thủ tục xin cấp giấy phép lao động, chỉ có 4,1% tự làm các thủ tục này. Lo ngại khó khăn, vướng mắc trong quá trình làm thủ tục xin cấp giấy phép lao động, một bộ phận doanh nghiệp và cá nhân LĐNN phải thuê công ty/cá nhân làm dịch vụ xin cấp giấy phép lao động và phải trả phí cho “dịch vụ” này. Mặc dù kết quả khảo sát cho thấy chỉ có gần 2% LĐNN trả lời có sử dụng “dịch vụ” này, tuy nhiên con số thực tế có thể lớn hơn do những LĐNN được doanh nghiệp/tổ chức lo thủ tục không biết doanh nghiệp tự làm hay thuê dịch vụ.

Thời hạn giấy phép lao động. Trong mẫu khảo sát, cơ cấu LĐNN theo thời hạn giấy phép lao động cũng tương đối phù hợp với cơ cấu về thời hạn hợp đồng lao động. Quá nửa LĐNN (55,7%) có thời hạn giấy phép lao động từ trên 24 đến 36 tháng, gồm các lao động quản lý, kỹ thuật,.. “nhân sự khung” của các cơ quan/tổ chức. Nhóm LĐNN được cấp giấy phép lao động thời hạn ngắn hơn thường là lao động làm việc theo nhiệm kỳ ở Việt Nam từ 2 năm trở xuống, gồm các chuyên gia, lao động kỹ thuật,… thực hiện các nhiệm vụ có thời hạn như lắp đặt/sửa chữa/cải tạo/nâng cấp công nghệ/thiết bị/máy móc, vận hành và chuyển giao công nghệ;…

Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy, có một số vướng mắc trong vấn đề cấp giấy phép lao động đối với cơ quan quản lý, doanh nghiệp và LĐNN.

Đối với cơ quan cấp giấy phép lao động (Sở LĐ-TBXH, Ban quản lý Khu công nghiệp Khu chế xuất) chỉ thực hiện cấp phép cho LĐNN khi doanh nghiệp/LĐNN cung cấp đầy đủ hồ sơ, thủ tục. Tuy nhiên, việc quản lý LĐNN sau khi cấp giấy phép lao động còn khá nhiều vướng mắc. Ví dụ sau khi cấp giấy phép, LĐNN có thực sự làm việc tại doanh nghiệp đăng ký hay không? có làm đúng nội dung công việc trong giấy phép lao động hay không? thời gian làm việc tại doanh nghiệp có đúng theo thời hạn giấy phép lao động không?… Để quản lý được những nội dung trên, cần sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan có liên quan như: lao động-TBXH; công an; xuất nhập cảnh;…

Các vi phạm trong thực tế liên quan đến giấy phép lao động gồm: LĐNN thực tế không làm việc tại doanh nghiệp/địa phương đăng ký; thời hạn cấp giấy phép lao động dài hơn so với thời gian làm việc thực tế; LĐNN làm công việc không đúng giấy phép lao động;…

 

Thực trạng đời sống của LĐNN tại Việt Nam

Mức độ hiểu biết của LĐNN tới các vấn đề như pháp luật, phong tục tập quán, môi trường làm việc, môi trường sống tại Việt Nam rất khác nhau. Số lượng hiểu biết về đời sống môi trường ở Việt Nam của họ chỉ ở mực độ tương đối. Những vấn đề người LĐNN quan tâm tìm hiểu nhất là “Trật tự an toàn” với 25,7% LĐNN hiểu biết đầy đủ, 62,1% biết tương đối về vấn đề này. Mối quan tâm lớn thứ hai của họ là “Môi trường sống” tại Việt nam ra sao, liệu họ thích nghi và hoà nhập được hay không?

Điều đáng ngạc nhiên là mối quan tâm của người LĐNN tới “Pháp luật Việt Nam” không nhiều bằng các vấn đề nêu trên, chỉ có gần 12% LĐNN trả lời “Hiểu đầy đủ” về pháp luật Việt Nam. Chính vì hiểu biết chưa đầy đủ về quy định pháp luật nên một bộ phận LĐNN không trực tiếp làm các thủ tục pháp lý tại các cơ quan công quyền của Việt Nam. Họ thường dựa vào công ty/tổ chức đang làm việc, hoặc thuê các doanh nghiệp/tổ chức dịch vụ luật thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết. Điều này có những thuận lợi nhưng cũng tạo ra nhiều rủi ro đối với người LĐNN do nguy cơ bị lừa đảo, mất chi phí cao, cá biệt có trường hợp phải trả hàng ngàn Đô la Mỹ cho các dịch vụ này. Mặt khác, sự kém hiểu biết pháp luật của LĐNN đang là mối lo tiềm ẩn của những tội phạm, trật tự an ninh trong địa bàn nhất là đối với lao động phổ thông bất hợp pháp đến từ các nước Châu phi, Trung Quốc…

– Về lao động nước ngoài làm việc tại các nhà thầu nước ngoài: Các địa phương đã tiến hành kiểm tra, rà soát 186 nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam với 7.014 người nước ngoài (chiếm 9,1% trên tổng số lao động nước ngoài), trong đó số nhà thầu Trung Quốc là 88 nhà thầu (chiếm 47,31% tổng số nhà thầu nước ngoài), cụ thể như sau:

 


Bảng số 5: Lao động nước ngoài làm việc tại các nhà thầu nước ngoài

 

Số lao động nước ngoài Thuộc đối tượng cấp GPLĐ Không thuộc đối tượng cấp GPLĐ
Số lượng (người) Tỷ lệ

(%)

Đã cấp GPLĐ Chưa cấp GPLĐ
Số lượng (người) Tỷ lệ

(%)

Số lượng (người) Tỷ lệ

(%)

Số lượng (người) Tỷ lệ

(%)

7.014 6.200 88,39 3.439 55,47 2.761 44,53 814 11,6

Nguồn: Tổng hợp số liệu kiểm tra, rà soát của các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội


  1. Các vấn đề đặt ra trong quản lý LĐNN:

Bức tranh thực trạng trên cho chúng ta thấy bên cạnh những hiệu quả do họ mang lại còn có những hệ lụy đối với đời sống kinh tế xã hội như: (1) Không tuân thủ các quy định pháp luật Việt Nam về visa, cấp phép, gia hạn cấp phép gây ra nhiều bất cập trong quản lý; (2) Tạo ra sức ép về việc làm, thu nhập cho lao động địa phương do dòng lao động phổ thông lách luật tràn vào; (3) Làm tăng gánh nặng lên cân đối ngân sách bởi họ sử dụng dịch vụ nhiều hơn đóng góp thuế. (4) Xung đột về văn hóa: Những khác biệt về văn hóa tới mức dẫn đến va chạm đã, đang và sẽ còn tạo ra sức ép chính trị tới việc quyết định và thực thi chính sách quản lý lao động nước ngoài. Những xung đột về văn hóa sẽ kéo theo nhiều bất ổn về chính trị và xã hội. (5) Tạo nguồn nhân lực thay thế LĐNN.

Kết luận và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với việc thúc đẩy đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài và thương mại quốc tế, thực trạng dòng lao động nước ngoài tại Việt Nam đến từ nhiều châu lục khác nhau cũng tăng lên. Lực lượng này đã bổ sung cho thị trường lao động trong nước trong khi nguồn nhân lực nội địa chưa đáp ứng được. Lao động nước ngoài đã đóng góp vào sự phát triển và tăng trưởng kinh tế nước ta, Tuy nhiên, lực lượng này cũng đã mang đến không ít những hệ lụy trong quản lý thị trường lao động như lao động không xin giấy phép, không gia hạn giấy phép, làm việc không đúng trình độ đã được cấp phép; tình hình an ninh trật tự, sự hiểu biết pháp luật và phong tục Việt nam chưa cao…

Để tạo điều kiện phát triển lành mạnh thị trường lao động và an ninh việc làm trong thời gian tới chúng ta cần:

– Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, quy định chặt chẽ hơn quy trình cấp phép lao động, giảm bớt hiện tượng LĐNN lách luật, làm việc tại Việt nam không đúng nội dung đã được cấp phép (sai về nơi làm việc, sai về nghề nghiệp, sai về trình độ,….);

– Rà soát lại quy định về chứng minh trình độ tay nghề của LĐNN, cụ thể cần xét lại quy định xác nhận “người có nhiều kinh nghiệm trong nghề nghiệp”.

– Sửa đổi, bổ sung Luật Đấu thầu trong đó quy định về tổ chức triển khai thực hiện các gói thầu hoặc dự án trúng thầu sau khi đã được phê duyệt, đặc biệt là việc giám sát và kiểm tra trong quá trình thực hiện; tăng chế tài xử phạt các vi phạm, các cam kết trong quá trình thực hiện các gói thầu hoặc dự án đã trúng thầu…

– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật với các hình thức phong phú, phù hợp với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có sử dụng người lao động nước ngoài để người lao động nước ngoài hiểu được các quyền lợi và nghĩa vụ của họ theo đúng quy định của pháp luật.

– Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thực hiện các quy định của pháp luật nhất là các đối tượng được xã hội quan tâm như lao động nước ngoài vào Việt Nam để hành nghề y, dược tư nhân; trực tiếp khám, chữa bệnh tại Việt Nam; làm việc trong lĩnh vực giáo dục;

– Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, Tư pháp, Công an, Kế hoạch và Đầu tư, Ngoại giao trong việc quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Xây dựng quy chế phối hợp giữa Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Tư pháp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Công an tỉnh và các ban, ngành có liên quan tại địa phương trong việc quản lý lao động nước ngoài.

– Xây dựng kế hoạch trung và dài hạn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng cho nhu cầu về lao động ở địa phương, đặc biệt là nhu cầu của các nhà thầu nước ngoài nhằm thay thế bằng sử dụng trong nước./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bao cáo của Cục Việc làm – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội qua các năm
  2. Quản lý nhà nước về LĐNN chất lượng cao ở Việt Nam – PGS.TS. Phan Huy Đường – Nhà xuất bản chính trị quốc gia
  3. Một số vấn đề đặt ra trong thực hiện các qui định pháp luật về LĐNN ở Việt Nam và hướng hoàn thiện – Phan Huy Đường và Đỗ Thị Dung (2011), Tạp chí Lao động và Xã hội số 403.
  4. Nghị định số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/03/2008 của Chính phủ qui định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam
  5. Nghị định số 46/2011/NĐ-CP ngày 17/06/2011 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/03/2008 của Chính phủ qui định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam
  6. Thông tư số 31/2011/TT-BLĐTBXH ngày 03/11/2011 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 34/2008/ND-CP và Nghị định sô 46/2011/NĐ-CP của Chính phủ.
  7. Thông tư sô 08/2008/TT-LĐTBXH ngày 10/6/2008 của Bộ Lao động – TB&XH hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 34/2008/N§-CP ngày 25/3/2008 cña Chính phủ qui định về việc tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

ThS. Nguyễn Thị Thu Hương- ThS. Nguyễn Thị Bích Thúy