Vận dụng cấu trúc ma trận vào thực tiễn của các tổ chức khoa học công nghệ nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực

Print Friendly

Tóm tắt: Hiện nay rất nhiều tổ chức khoa học đang hoạt động theo cấu trúc chức năng, tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm thì cấu trúc chức năng còn tồn tại nhược điểm như cứng nhắc, khó thích nghi với môi trường. Bài viết này tập trung vào việc giới thiệu tính ưu điểm của cấu trúc ma trận, gợi ý các tổ chức khoa học công nghệ vận dụng cấu trúc ma trận vào hoạt động thực tiễn để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của tổ chức hiện có. Ngoài ra, bài viết đưa một số giải pháp về phương thức quản lý của tổ chức khoa học công nghệ theo mô hình cấu trúc ma trận để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực: (i) Đề cao quyền tự do nghiên cứu khoa học của cán bộ, (ii) Chú trọng quản lý công việc thay vì quản lý thời gian, (iii) Công tác đào tạo cán bộ, (iv) Thay đổi tư tưởng người lãnh đạo, (v) Kiện toàn bộ máy tổ chức khoa học công nghệ.

Summary: At present, many scientific organizations apply functional structure, but besides its advantages, there are disadvantages such as inflexibility. This writing will focus on showing advantages of matrix structure, suggesting for science and technology organizations in applying matrix structure for using human resource effectively. In addition, the writing also recommend some options of management ways in science and technology organizations on the basis of matris structure: (i) Highly appreciate right of doing research, (ii) Pay attention to task management instead of time management, (iii) Training for staff (iv) Change leader’s concept, (v) Strenghthen science and technology units.

  1. Tổng quan về cấu trúc ma trận

Cấu trúc ma trận là gì?

Cấu trúc ma trận là loại hình tổ chức tích hợp cấu trúc chức năng và cấu trúc dự án. Sự tích hợp thể hiện sự kết hợp hài hoà của tổ chức hình thức và phi hình thức, là bước phát triển cao của tổ chức hữu cơ. Cấu trúc chức năng thường nằm trong các tổ chức máy móc như các Vụ, Cục ở các Bộ, các phòng nghiên cứu ở các Viện, các phân xưởng trong nhà máy… Còn cấu trúc dự án là loại tổ chức hữu cơ cũng có thể xem như tổ chức phi hình thức, cấu trúc này là tập hợp một số nhân lực thực hiện một dự án, một chương trình, một công việc nằm ngoài khu vực chức năng. Tổ hợp hai cấu trúc đó lại hình thành nên cấu trúc ma trận.

Cấu trúc chức năng và cấu trúc dự án trong cấu trúc ma trận được sử dụng biến hoá lẫn nhau mặc dù có sự khác biệt về cơ bản giữa chúng. Nhân sự trong cấu trúc dự án là mượn để sử dụng tạm thời không thuộc về người quản lý dự án, khi hoàn thành dự án họ trở về cơ cấu chức năng. Khi tham gia dự án, các thành viên chịu sự quản lý kép của người quản lý cấu trúc dự án và người quản lý cấu trúc chức năng.

Trong cấu trúc ma trận tồn tại song song hai loại quyền lực là quyền lực địa vị và quyền lực cá nhân. Quyền lực trong cấu trúc chức năng là quyền lực địa vị (quyền lực do cấp trên trao cho). Quyền lực trong cấu trúc dự án là quyền lực cá nhân (quyền lực do uy tín cá nhân của người chủ dự án với đồng nghiệp) xuất phát từ chủ dự án được lan truyền theo chiều ngang trong cấu trúc dự án và cả trong cấu trúc chức năng. Về vấn đề lan truyền quyền lực xuất hiện “lỗ hổng quyền lực” của chủ dự án khi lan truyền quyền lực theo chiều ngang và bộc lộ rõ nhất ở khu vực cấu trúc chức năng, người phụ trách dự án do vậy có trách nhiệm cao hơn quyền lực của họ.

Tính ưu điểm của cấu trúc ma trận

Mặc dù cấu trúc ma trận khó về quản lý nhân sự nhưng lại được xem là mô hình tổ chức hiện đại bởi các tính ưu điểm của nó.

– Cấu trúc ma trận làm tăng khả năng thích ứng với môi trường của cấu trúc chức năng bằng cấu trúc dự án nhưng không phá vỡ sự cân bằng của cấu trúc chức năng, đảm bảo cho tổ chức phát triển ổn định lâu dài nhưng vẫn có sự phản ứng nhanh với thị trường. Với lợi thế này thì các tổ chức doanh nghiệp cũng như các tổ chức sự nghiệp sử dụng cấu trúc ma trận một cách mềm dẻo và tăng khả năng thích ứng với thị trường. Đây là một giải pháp của ứng dụng quy luật tự điều chỉnh của tổ chức. Nhiều tổ chức có cấu trúc máy móc khi môi trường biến động đã điều chỉnh bằng cấu trúc ma trận để chuyển hóa, đảm bảo sự tồn tại trong môi trường mới và thích nghi để tìm sự phát triển.

– Cấu trúc ma trận nâng cao sự phối hợp giữa các chuyên gia của cấu trúc chức năng và cho phép sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của tổ chức. Trong các tổ chức chức năng thường không khai thác hết tiềm năng của nhân lực nên sự hình thành các dự án của cấu trúc dự án sẽ khai thác nguồn tiềm năng vốn có đó. Các chuyên gia khi tham gia các dự án sẽ vận dụng kinh nghiệm tích luỹ được từ dự án này sang dự án khác nhằm nâng cao hiệu quả của công việc được đảm nhiệm. Cùng lúc thực hiện dự án họ vẫn có nhiệm vụ kép, chính vì vậy năng lực của họ được phát huy tốt hơn và cống hiến cho xã hội nhiều hơn. Đặc biệt, các thủ trưởng trong cấu trúc dự án sẽ không lo nhân sự sau khi dự án kết thúc và họ lại sẵn sàng cho các dự án mới.

– Cấu trúc ma trận làm mềm hoá cấu trúc chức năng, cho dù cấu trúc chức năng là kiểu cấu trúc máy móc cũng chuyển hoá sang cấu trúc hữu cơ mềm dẻo hơn, hoạt động sáng tạo và hiệu quả hơn. Cấu trúc ma trận thúc đẩy sự hoà nhập, phối hợp của kinh nghiệm và tiềm lực các phân hệ trong cấu trúc chức năng hướng đến sản phẩm cuối cùng giúp cho sự cạnh tranh lành mạnh giữa các phân hệ trong cấu trúc chức năng cùng hướng tới sản phẩm cuối cùng của tổ chức. Đó là làm cho tổ chức thích ứng với môi trường kể cả khi môi trường biến động. Ngoài ra, cấu trúc ma trận còn giúp đạt được cân bằng tốt hơn giữa thời gian, chi phí và kết quả thông qua hoạt động dự án tạo sự cân bằng bên trong và qua sự đàm phán liên tục giữa lãnh đạo các cấu trúc dự án và cấu trúc chức năng. Trong cấu trúc ma trận cũng thường xuyên có xung đột ở cấp thấp giữa các cấu trúc dự án với cấu trúc chức năng và chính quá trình giải quyết xung đột lại nhằm thúc đẩy tổ chức phát triển và đặc biệt là làm cấu trúc chức năng ngày càng hoàn thiện hơn.

– Cấu trúc ma trận cho phép thực hiện các dự án với mọi quy mô do kết hợp được chuyên môn hoá và hợp tác hoá. Cấu trúc ma trận cũng vì thế mà có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu của đối tác với bất kỳ quy mô nào cả về khối lượng và phổ rộng của chuyên môn, điều mà cấu trúc chức năng không thực hiện được.

  1. Vận dụng cấu trúc ma trận vào thực tiễn của các tổ chức khoa học công nghệ nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực khoa học

Hiện nay, công tác tổ chức nhân sự của các tổ chức khoa học công nghệ thường vận hành theo cơ cấu chức năng đó là nhiệm vụ đưa về từng phòng, ban quản lý sau đó lãnh đạo phòng/ban quyết định phân công nhiệm vụ cho cán bộ trong đơn vị mình quản lý. Đối với một số tổ chức khoa học công nghệ còn thiếu nguồn nhân lực nên áp dụng những ưu điểm của cấu trúc ma trận để tái cấu trúc lại tổ chức để khai thác hết tiềm năng nhân lực còn hạn chế trong tổ chức.

Cấu trúc tổ chức theo chức năng thì trong đó từng chức năng quản lý được tách riêng theo phòng/ban đảm nhiệm. Nếu đơn vị khoa học công nghệ được tổ chức theo cấu trúc ma trận sẽ kết hợp cấu trúc chức năng và cấu trúc dự án. Có thể tham khảo sơ đồ tổ chức theo cấu trúc ma trận như sau:

anh

Sơ đồ tổ chức theo cấu trúc ma trận

____  Mối quan hệ hành chính                             _ _       Mối quan hệ tư vấn

Mối quan hệ phối hợp

Thực hiện theo mô hình cấu trúc ma trận, một cán bộ cùng một lúc có thể tham gia được nhiều dự án của phòng/ban nói riêng và của cơ quan nói chung. Quan trọng khi áp dụng cấu trúc ma trận sẽ nâng cao được sự phối hợp nhân sự giữa các đơn vị trong tổ chức khoa học công nghệ. Điều đó giúp cho các tổ chức sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực mà cấu trúc chức năng chưa thể khai thác hết tiềm năng vốn có của con người.

Hiện nay, việc thực hiện cơ chế tự chủ của các đơn vị nghiên cứu khoa học được áp dụng thì nguồn ngân sách nhà nước chi cho hoạt động khoa học của các tổ chức khoa học công lập đang bị giảm dần. Vì vậy, để tồn tại và phát triển bản thân tổ chức phải tự thay đổi để thích nghi với biến động của thị trường. Một trong những ưu điểm của cấu trúc ma trận hấp dẫn các tổ chức trong doanh nghiệp cũng như các tổ chức máy móc của nhà nước đó là giúp tổ chức cân bằng tốt về thời gian, chi phí và kết quả thông qua hoạt động dự án tạo nên sự cân bằng bên trong và qua sự đàm phán liên tục giữa lãnh đạo các cấu trúc dự án và cấu trúc chức năng

Khi tái cấu trúc tổ chức khoa học công nghệ từ cấu trúc chức năng sang cấu trúc ma trận đòi hỏi cán bộ quản lý nhân sự phải có trách nhiệm cao hơn quyền lực của họ. Vì quyền lực trong cấu trúc ma trận là quyền lực cá nhân thông qua uy tín và năng lực được thể hiện trong công việc để quản lý cán bộ.

Một trong những điều quan trọng nên áp dụng cấu trúc ma trận trong tổ chức khoa học công nghệ chính là giải phóng lực lượng nghiên cứu khoa học ra khỏi sự ràng buộc của “biên chế”, giải thoát việc cấu trúc chức năng là bức tường ngăn cản sự cống hiến của cán bộ. Từ đó tạo cơ hội cho họ chủ động tham gia nhiều vào các dự án và có điều kiện cho tổ chức thanh lý những người không phù hợp với công tác nghiên cứu khoa học. Quá trình này tạo nên sự xuất hiện của những người có khả năng tổ chức và thực hiện dự án. Việc đánh giá năng lực của cán bộ trẻ thông qua chất lượng các đề tài nghiên cứu và nhanh chóng tìm ra các thủ lĩnh dự án trong cấu trúc ma trận.

  1. Giải pháp về phương thức quản lý của các tổ chức khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực

– Đề cao quyền tự do nghiên cứu khoa học của cán bộ

Muốn phát huy hết tiềm năng nhân lực khoa học của cán bộ trước hết phải tôn trọng quyền tự do nghiên cứu khoa học, khuyến khích cán bộ tham gia nhiều vào các dự án, đề tài trong đơn vị. Việc đề cao quyền tự do nghiên cứu của cán bộ trước hết là sắp xếp cán bộ công tác tại phòng/ban thuộc về lĩnh vực đã được đào tạo. Khuyến khích cán bộ tham gia vào các khóa nâng cao trình độ chuyên môn do tổ chức khoa học trong nước giảng dạy hoặc tạo điều kiện cho cán bộ đi học các lớp đào tạo ngắn hạn ở nước ngoài. Tôn trọng ý kiến của cán bộ đóng góp vào công tác nghiên cứu khoa học của đơn vị. Tạo điều kiện để cán bộ có thể tham gia công tác giảng dạy chuyên ngành nghiên cứu của các tổ chức khoa học công nghệ tại các trường đại học/cao đẳng. Vì qua công tác giảng dạy, trình độ chuyên môn cũng như lòng nhiệt huyết với công tác nghiên cứu khoa học của mỗi cán bộ được nâng lên và gắn nghiên cứu lý luận với thực tiễn qua công tác giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học.

– Chú trọng quản lý công việc thay vì quản lý thời gian

Công tác nghiên cứu khoa học là một dạng hoạt động cần có sự đầu tư chất xám, không phải là công việc mang tính chất hành chính hóa nên đổi mới phương thức quản lý cán bộ theo tiến độ và chất lượng công việc. Trong cấu trúc chức năng thì việc quan trọng quản lý cán bộ là tính theo thời gian làm việc. Tuy nhiên, trong cấu trúc ma trận thì việc quản lý công việc được đánh giá là một trong những ưu điểm phù hợp với các tổ chức khoa học công nghệ. Người quản lý đánh giá cán bộ thông qua chất lượng, tiến độ và hiệu quả công việc được giao. Từ đó giúp cho tổ chức đánh giá chất lượng nhân lực hoặc thành tích khen thưởng của cán bộ qua chất lượng các đề tài/dự án mà cán bộ tham gia sẽ rất chính xác.

– Công tác đào tạo cán bộ

Thay đổi phương thức quản lý để xây dựng các tổ chức khoa học công nghệ vững mạnh, trong đó công tác quản lý và đào tạo đội ngũ cán bộ có ý nghĩa quyết định. Các tổ chức khoa học công nghệ cần xác định được các định hướng chiến lược phát triển và nhiệm vụ trong thời gian dài như tham gia công tác đào tạo sau đại học, thực hiện các chương trình đề tài mang tính chiến lược, xây dựng hệ thống thông tin và phổ biến kết quả công trình nghiên cứu khoa học, tổ chức tư vấn…

Sử dụng nhân lực trong các tổ chức khoa học công nghệ, hiện nay ngoài quá trình thu hút cán bộ thi tuyển vào đơn vị thì cần tổ chức đào tạo nâng cao chuyên môn cho cán bộ và phát huy tiềm năng vốn có của nhân lực khoa học trong đơn vị nhằm tạo ra của cải vật chất đáp ứng và nâng cao thu nhập của cán bộ. Khi áp dụng tái cấu trúc chức năng của tổ chức khoa học công nghệ sang cấu trúc ma trận thì việc hoạch định chính sách sử dụng nguồn nhân lực là khâu quan trọng để sử dụng nhân lực tốt nhất và hiệu quả nhất. Lãnh đạo trong các tổ chức khoa học công nghệ phải có chiến lược sử dụng nguồn nhân lực, đặc biệt phải định hướng việc phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng để duy trì và nâng cao chất lượng nghiên cứu thông qua hiệu quả sử dụng nhân lực.

– Nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học công nghệ

Theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, nghị quyết Hội nghị TW 6 (khóa IX) đặt ra nhiệm vụ cho khoa học và công nghệ là “giải đáp những vấn đề lý luận và thực tiễn do cuộc sống đặt ra. Cung cấp các luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách nhằm tiếp tục giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất”. Xuất phát từ nhiệm vụ đó, các đơn vị chủ quản của tổ chức khoa học công nghệ có vai trò định hướng cho các tổ chức đầu tư và đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học với hàm lượng cao, đột phá vào những vấn đề thuộc về cơ chế để phát huy nội lực khoa học. Đặc biệt, các đơn vị chủ quản cần tạo điều kiện và khuyến khích cho các tổ chức khoa học công nghệ chuyển đổi cơ chế hoạt động từ cấu trúc chức năng sang cấu trúc ma trận để thực hiện công tác nghiên cứu khoa học theo Nghị quyết 9 của Đảng khẳng định đó là “khẩn trương chuyển đổi các tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu triển khai sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp”.

Việc tái cấu trúc các tổ chức khoa học công nghệ cũng là việc cần thiết để các tổ chức khoa học công nghệ thực hiện nghiêm túc nghị định 115/NĐ-CP của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập nhằm tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của tổ chức khoa học và công nghệ. Xuất phát từ tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nghị định 115/NĐ-CP là điều kiện mở đường cho các tổ chức khoa học công nghệ hình thành và phát triển công tác nghiên cứu khoa học theo cấu trúc ma trận để đáp ứng nhanh những thay đổi của thị trường.

– Kiện toàn bộ máy tổ chức khoa học công nghệ

Kiện toàn bộ máy tổ chức và quản lý theo cấu trúc hoạt động mới của các tổ chức khoa học công nghệ. Xây dựng điều lệ hoạt động của tổ chức và của các đơn vị thuộc tổ chức; Kiện toàn bộ máy quản lý của tổ chức và các đơn vị thuộc tổ chức; Xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu chuyên nghiệp từ đó đào tạo thành các chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực nghiên cứu của tổ chức; Xây dựng tiêu chuẩn chức danh của cán bộ làm cơ sở cho công tác tuyển dụng, bố trí và trả công lao động. Đặc biệt, trong công tác kiện toàn bộ máy hoạt động theo cấu trúc ma trận cần xác định quyền của người đứng đầu trong tổ chức cán bộ, trong tuyển dụng, đánh giá cán bộ, trong khen thưởng, kỷ luật và trong phân phối (tăng lương, đề bạt, bổ nhiệm…). Ngoài ra, do phần lớn các tổ chức khoa học công nghệ hoạt động theo cơ chế một thủ trưởng nên cần xác định mối quan hệ cụ thể giữa thủ trưởng đơn vị với chủ nhiệm các đề tài/dự án thông qua đó thủ trưởng thực hiện quyền kiểm tra, kiểm soát đối với các chủ nhiệm, cũng như các chủ nhiệm được chủ động tổ chức thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi cho phép.

Kết luận

Mô hình cấu trúc ma trận có rất nhiều ưu điểm, nó có sức hấp dẫn đối với các nhà tổ chức kể cả doanh nghiệp khoa học công nghệ cũng như tổ chức khoa học công nghệ công lập. Vì vậy, việc vận dụng cấu trúc ma trận vào thực tiễn của các tổ chức khoa học công nghệ để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực khoa học là điều cần thiết.

ThS Nguyễn Thị Hồng Hạnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Harold koontz; Cyril Odonnell; Heinz Weihrich, Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb Khoa học và kỹ thuật.
  2. Nguyễn Anh Thu (2009), tập bài giảng, Chính sách phát triển các nguồn lực khoa học và công nghệ
  3. TS Phạm Huy Tiến (2009), tập bài giảng, Tổ chức khoa học công nghệ
  4. Website Tạp chí hoạt động khoa học (http://www.tchdkh.org.vn), Mô hình tổ chức hiện đại, PGS.TS Phạm Huy Tiến, 2004.
  5. Website Viện Chiến lược và chính sách Khoa học và công nghệ (http://www.nistpass.gov.vn), Chú trọng phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, 14.10.2010.