Về định hướng chiến lược lĩnh vực lao động, người có công và xã hội giai đoạn 2011 – 2020

Print Friendly
  1. Thực trạng tình hình thực hiện nhiệm vụ lao động, người có công và xã hội 2001 – 2008
  2. Những thành tựu:

Dạy nghề đã được phục hồi và có bước phát triển mạnh, từng bước đáp ứng yêu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển con người. Mạng lưới cơ sở dạy nghề đã được phát triển trong cả nước; đến năm 2008, có 1017 cơ sở dạy nghề (gấp 3,32 lần so với năm 2001), trong đó có 214 trường trung cấp nghề và 92 trường cao đẳng nghề. Quy mô dạy nghề tăng nhanh, cơ cấu trình độ chuyển mạnh sang dạy nghề dài hạn (trung cấp nghề, cao đẳng nghề). Trong 8 năm (2001-2008), đã dạy nghề cho 9895,3 ngàn người, năm 2008 quy mô dạy nghề đạt 1538 ngàn người, gấp1,73 lần so với năm 2001, trong đó trung cấp nghề, cao đẳng nghề chiếm 16,8 %; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2008 đạt khoảng 26%. Cơ cấu ngành nghề đào tạo đã từng bước điều chỉnh theo nhu cầu của thị trường lao động, của xã hội; các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề được tăng cường nên chất lượng và hiệu quả dạy nghề dần được nâng cao. Khoảng 70% học sinh học nghề tìm được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp (ở các trường thuộc doanh nghiệp và ở một số nghề, tỷ lệ này đạt trên 90%).

Sức sản xuất, sức lao động tiếp tục được giải phóng, các loại hình sản xuất kinh doanh phát triển đa dạng, tạo nhiều việc làm cho lao động xã hội; cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập; thị trường lao động hình thành và phát triển (kể cả trong nước và xuất khẩu lao động); thất nghiệp thành thị có xu hướng giảm liên tục. Giai đoạn 2001 – 2008, tăng trưởng việc làm bình quân đạt khoảng 2,5%/năm, mỗi năm tạo được khoảng 1,5 triệu chỗ làm việc mới; tỷ lệ lao động nông nghiệp liên tục giảm từ 62,61% năm 2000 xuống còn khoảng 52 % năm 2008; tỷ lệ thất nghiệp thành thị giảm từ 6,74% xuống còn 4,64%. Quan hệ lao động hình thành và phát triển cơ bản theo hướng ổn định, hài hòa lợi ích giữa các bên và tiến bộ; chính sách tiền lương từng bước đổi mới theo định hướng thị trường, tiền lương và thu nhập của người lao động hàng năm tăng khoảng 10% – 20%, đời sống người lao động dần được nâng cao; điều kiện làm việc của người lao động (an toàn – vệ sinh lao động) được cải thiện hơn.

– Hệ thống an sinh xã hội (ASXH) ngày một hoàn thiện, đối tượng được mở rộng, chất lượng cung cấp dịch vụ ASXH ngày càng được nâng cao. Người có công được Nhà nước và toàn xã hội chăm sóc tốt hơn về vật chất và tinh thần, được tôn vinh; đời sống ổn định và từng bước được cải thiện, đến nay khoảng 85% hộ gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình dân cư nơi cư trú. Hộ nghèo giảm nhanh, đi đôi với tăng thu nhập, chống tái nghèo, làm chậm sự gia tăng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các tầng lớp dân cư. Theo chuẩn nghèo của Ngân hàng Thế giới tính cho Việt Nam tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 16 % năm 2006, trong 13 năm, đã giảm gần ¾ hộ nghèo; theo chuẩn nghèo quốc gia đến năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn khoảng 12,3%; người nghèo tiếp cận tốt hơn các nguồn lực kinh tế và dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở…). Chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị thu hẹp dần, còn khoảng 2 lần; mức độ gia tăng chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư chậm lại. Đối tượng được tiếp cận và hưởng lợi từ chính sách ASXH ngày càng mở rộng, đến nay có trên 8,5 triệu lao động tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc, chiếm 18% lực lượng lao động, 37 triệu người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) (cả bắt buộc và tự nguyện), 80% đối tượng thuộc diện trợ giúp xã hội được hưởng trợ cấp xã hội của Nhà nước và của cộng đồng nên đời sống của đối tượng được ổn định và hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng.

– Bảo vệ và chăm sóc trẻ em tốt hơn. Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em ngày càng được coi trọng; các quyền và môi trường sống của trẻ em được hiểu và thực hiện ngày càng rộng rãi hơn. Từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho trẻ em; giảm tỷ lệ tử vong cho trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi, tăng tỷ lệ trẻ em đến trường và được phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở; trẻ em khó khăn và có hoàn cảnh đặc biệt được quan tâm, chăm sóc và hòa nhập cộng đồng.

– Bình đẳng giới được coi trọng. Hiến pháp, luật pháp Việt Nam, nhất là Bộ luật Lao động, luật Bình đẳng giới quy định mọi công dân đều được bình đẳng, không có bất cứ phân biệt nào giữa nam và nữ về mọi phương diện của đời sống xã hội; Chỉnh phủ đã ban hành nhiều chính sách đặc thù, một số chính sách,luật pháp có những quy định riêng cho phụ nữ; coi trọng lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào chiến lược, kế hoạch, các chương trình mục tiêu quốc gia. Kết quả tỷ lệ phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tăng, đã làm giảm và xóa bỏ dần khoảng cách giới. Hiện nay, phụ nữ chiếm 49,4% trong tổng lực lượng lao động có việc làm; tỷ lệ lao động nữ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong các lĩnh vực đạt trên 47%; tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận dịch vụ y tế tăng từ 83,5% năm 2005 lên trên 85% năm 2008; tỷ lệ phụ nữ trong Quốc hội xếp thứ 31 trên thế giới và đứng đầu trong 8 nước ASEAN có nghị viện; chỉ số phát triển giới (GDI) đứng ở vị trí thứ 109 trong số 177 nước, chỉ số khoảng cách giới đứng ở vị trí thứ 68 trong số 130 nước.

– Với sự nỗ lực chung của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội, của nhân dân đã kìm hãm được tình hình tệ nạn xã hội, nhất là nghiện ma túy, mại dâm. Đã hạn chế được mức độ hoạt động công khai, các tụ điểm nóng, phức tạp. Công tác chữa trị, giáo dục, phục hồi, dạy nghề, tạo việc làm và hòa nhập cộng đồng cho đối tượng được đẩy mạnh và có kết quả.

  1. Tồn tại và thách thức

– Quy mô dạy nghề còn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu rất lớn và đa dạng của sản xuất, của thị trường lao động; cơ cấu trình độ chưa hợp lý, chất lượng dạy nghề chưa cao, 83% là dạy nghề ngắn hạn nên thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở trình độ cao. Phát trỉển dạy nghề chưa thích ứng với những biến động nhanh của kỹ thuật – công nghệ trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Dạy nghề cho lao đông nông thôn phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, cũng như cho các nhóm lao động đặc thù (dân tộc thiểu số, thanh niên, người tàn tật, bộ đội xuất ngũ, lao động dôi dư, lao động các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất) đã được quan tâm và có kết quả bước đầu, nhưng quy mô còn nhỏ.

– Chưa tạo đủ việc làm cho người lao động, chất lượng việc làm và năng suất lao động còn thấp, thất nghiệp ở thành thị, đặc biệt là nhóm lao động trẻ còn cao, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên độ tuổi 15- 24, gấp 2-3 lần tỷ lệ tất nghiệp thành thị; tình trạng thiếu việc làm và thu nhập thấp của lao động ở nông thôn rất nghiêm trọng; chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn chậm ; việc làm cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp rất khó khăn; vấn đề xã hội của lao động nhập cư như nhà ở, các dịch vụ y tế và giáo dục, vệ sinh, môi trường, an ninh, văn hoá… chưa được quan tâm đúng mức. Thị trường lao động phát triển chưa đồng đều; tình trạng vi phạm pháp luật lao động vẫn còn phổ biến trong các doanh nghiệp dẫn đến có nhiều tranh chấp lao động; chính sách tiền lương còn nhiều bất hợp lý; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vẫn gia tăng.

– Hệ thống ASXH phát triển chưa đầy đủ, thiếu sự liên kết và hỗ trợ nhau, mức độ bao phủ còn thấp và chất lượng cung cấp dịch vụ ASXH chưa đáp ứng yêu cầu của đối tượng thụ hưởng. Đời sống của một bộ phận người có công còn khó khăn; tỷ lệ tham gia BHXH trong lực lượng lao động còn thấp; kết quả xóa đói giảm nghèo chưa thật vững chắc, tỷ lệ hộ nghèo đã thoát nghèo nhưng nằm sát chuẩn nghèo rất lớn (70%-80%), chỉ cần gặp rủi ro là rơi vào nghèo đói, tỷ lệ tái nghèo còn cao, khoảng 7%-10%; hộ nghèo tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn( 90%), ở một số vùng hộ nghèo còn rất cao, nhất là vùng miền núi và dân tộc thiểu số, hiện có 62 huyện tỷ lệ hộ nghèo trên 50%; đời sống của đối tượng trợ giúp xã hội còn khó khăn, chưa đảm bảo ở mức tối thiểu.

– Tình hình vi phạm quyền trẻ em đang xẩy ra ở nhiều nơi, trẻ em bị tai nạn thương tích, bạo hành, bị buôn bán, xâm hại và lây nhiễm hoặc ảnh hưởng bởi HIV/AIDS có xu hướng gia tăng.

– Nhận thức về bình đẳng giới trong một bộ phận xã hội chưa đúng và đầy đủ; khoảng cách giới vẫn còn tồn tại trong các lĩnh vực đời sống xã hội.

– Tệ nạn xã hội vẫn diễn biến phức tạp và đang gia tăng, đặc biệt là tệ nạn ma túy, mại dâm. Số người nghiện ma tuý tăng trung bình 9%/năm, tỷ lệ tái nghiện cao (70%- 80%); số đối tượng mại dâm tăng bình quân 2%-4%/năm.

2.Quan điểm chỉ đạo chiến lược lĩnh vực lao động, người có công và xã hội trong giai đoạn mới

Quan điểm của Đảng về phát triển xã hội liên quan đến lĩnh vực lao động, người có công và xã hội dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lê Nin và t­ư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển xã hội, đ­ược thể hiện nhất quán và không ngừng đổi mới trong các kỳ đại hội Đảng phù hợp với từng thời kỳ phát triển, Trên cơ sở kế thừa các quan điểm của Đảng trong thời kỳ đổi mới vừa qua, trong định hướng chiến lược lĩnh vực lao động, người có công và xã hội giai đoạn 2011 – 2020 cần quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau:

– Phát triển lĩnh vực lao động, người có công và xã hội phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và gắn liền với phát triển kinh tế, tạo nền ổn định thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội vì mục tiêu phát triển con người, phát huy tối đa nguồn lực con người, vốn nhân lực trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập.

– Tiếp tục giải phóng triệt để sức sản xuất và sức lao động; phát triển mạnh nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao; tạo việc làm theo hướng bền vững và có thu nhập cao; phát triển thị trường lao động đồng đều trên phạm vi cả nước để gắn kết cung – cầu lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; thực hiện công bằng trong quan hệ phân phối tiền lương và thu nhập; chăm sóc tốt đời sống vật chất và tinh thần người có công; khuyến khích làm giàu đồng thời tích cực giảm nghèo vững chắc và gắn với phát triển; xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH phù hợp với kinh tế thị trường nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục hiệu quả rủi ro cho mọi người; thực hiện bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; bảo vệ và chăm sóc tốt trẻ em, bảo đảm cho trẻ em phát triển bình thường về thể chất và tinh thần; đẩy lùi và hạn chế tác hại của tệ nạn xã hội.

– Tập trung nguồn lực và sự chỉ đạo giải quyết các vấn đề lao động, người có công và xã hội cho các vùng nông thôn khó khăn, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây và vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

– Phát triển lĩnh vực lao động, người có công và xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Giải quyết các vấn đề về chính sách lao động, người có công và xã hội theo tinh thần xã hội hóa, trong đó sự lãnh đạo của Đảng và quản lý, đầu tư của Nhà nước có vai trò nòng cốt, quyết định; phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng; thực hiện rộng rãi dân chủ ở cơ sở; khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường trở thành chủ thể vươn lên của các đối tượng.

  1. Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chiến lược lĩnh vực lao động, người có công và xã hội giai đoạn 2011 – 2020

3.1. Mục tiêu

  1. Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát đến năm 2020 về cơ bản đạt được sự phát triển bền vững các lĩnh vực lao động, người có công và xã hội của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới; góp phần tăng trưởng kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội.

  1. Hệ thống chỉ tiêu đến năm 2020

– Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 55% vào năm 2020 và 50% nông dân được học nghề (bình quân mỗi năm đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn).

– Tăng trưởng việc làm trong nước 2,5%- 3%/ năm; xuất khẩu lao động 90 ngàn – 100 ngàn người; tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm còn 30%; tỷ lệ lao động có quan hệ lao động đạt 50%; duy trì tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới 4,5%.

– 100% hộ gia đình người có công đang hưởng trợ cấp hàng tháng có mức sống cao hơn mức sống trung bình của xã hội.

– Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 3%/năm; giảm tỷ lệ hộ nghèo của 62 huyện nghèo nhất xuống mức ngang bằng mức trung bình của khu vực và nâng cao đời sống của dân cư ở các huyện nghèo gấp 5 – 6 lần so với năm 2008.

– 30% – 35% lực lượng lao động xã hội tham gia các loại hình BHXH.

– 100% người thuộc diện chính sách trợ giúp xã hội được hưởng trợ cấp xã hội và hỗ trợ về y tế – phục hồi chức năng.

– 100% trẻ em dưới 6 tuổi và trẻ em nghèo được cấp thẻ BHYT, khám chữa bệnh miễn phí; 95% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc của Nhà nước và cộng đồng.

– Chỉ số phát triển giới (GDI) và chỉ số khoảng cách giới được xếp hạng vào nhóm nước khá trên thế giới.

– 100% người nghiện ma túy, mại dâm có hồ sơ quản lý được cai nghiện, chữa trị, dạy nghề, tạo việc làm và tái hoà nhập cộng đồng; giảm tỷ lệ tái nghiện, tái phạm 8% – 10%/năm.

3.2. Nhiệm vụ

  1. Tập trung mọi nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng và trình độ cao. Tạo bước đột phá về dạy nghề gắn với nhu cầu của nền kinh tế, của xã hội và nâng cao chất lượng dạy nghề

Đổi mới và phát triển dạy nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, theo định hướng cầu của thị trường lao động và của xã hội; mở rộng quy mô và tập trung đột phá nâng cao chất lượng dạy nghề; chuyển mạnh dạy nghề từ trình độ thấp sang trình độ cao (trung cấp nghề, cao đẳng nghề và cao đẳng, đại học kỹ thuật công nghệ); đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo, bảo đảm cơ cấu ngành nghề đào tạo hợp lý phù hợp yêu cầu của nền kinh tế, nhất là ngành nghề mới, kỹ năng mới, lựa chọn những nghề mũi nhọn, trọng điểm để ưu tiên đầu tư; đa dạng hóa các cơ sở đào tạo, dạy nghề trên cơ sở quy hoạch; đặc biệt phát triển mạnh dạy nghề trong các doanh nghiệp và gắn với doanh nghiệp là chủ yếu; xác định chi phí học nghề sát với thị trường và thực hiện chính sách xã hội trong dạy nghề; đẩy mạnh các hoạt động dự báo nhu cầu đào tạo; thiết lập hệ thống kết nối giữa hướng nghiệp – dạy nghề – thông tin, tư vấn, giới thiệu việc làm – doanh nghiệp.

  1. Tạo việc làm, việc làm bền vững, có chất lượng và thu nhập cao cho người lao động

Bảo đảm tạo đủ việc làm, việc làm bền vững và thu nhập cao cho người lao động (cả trong nước và xuất khẩu lao động); đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập; phát triển thị trường lao động đồng đều giữa các vùng gắn kết cung – cầu lao động; tăng lao động làm công ăn lương, phát triển hệ thống thông tin, phân tích và dự báo thị trường lao động; hệ thống giao dich việc làm (tư vấn, giới thiệu việc làm…) áp dụng công nghệ thông tin hiện đại và nối mạng quốc gia; thực hiện nguyên tắc phân phối tiền lương và thu nhập công bằng; tiền lương trong khu vực sản xuất kinh doanh do thị trường quyết định, phản ánh quan hệ cung – cầu lao động và được xác định thông qua cơ chế thương lượng, thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trên cơ sở thực hiện cơ chế thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao, giảm thiểu tranh chấp lao động và đình công; bảo đảm cho người lao động làm việc trong môi trường an toàn và vệ sinh, giảm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.

  1. Phát triển hệ thống ASXH đa tầng và linh hoạt, có thể hỗ trợ lẫn nhau, có khả năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho mọi người dân, không một ai bị gạt ra bên lề xã hội

Thực hiện tốt chăm sóc người có công. Tiếp tục điều chỉnh chế độ trợ cấp ưu đãi người có công trên cơ sở mức chi dùng bình quân đạt được của xã hội, cộng với sự chăm sóc của cộng đồng và tự vươn lên của đối tượng bảo đảm mức sống người có công đạt mức trên trung bình của xã hội;

Tiếp tục thực hiện chủ trương khuyến khích làm giàu, đồng thời tích cực giảm nghèo vững chắc, vươn lên no ấm khá giả. Thực hiện chính sách tăng trưởng gắn với giảm nghèo bền vững; xây dựng và thực hiện chương trình phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn gắn với giảm nghèo; tạo điều kiện cho người nghèo nâng cao năng lực thị trường thông qua các chương trình dạy nghề, hướng dẫn cách làm ăn, tiếp cận các nguồn lực kinh tế (đất đai, vốn, khoa học – kỹ thuật, thị trường…) để tạo việc làm, đa dạng hóa sinh kế và tăng thu nhập; tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận thuận lợi và chi phí thấp các dịch vụ xã hội cơ bản, ASXH và phúc lợi xã hội; hỗ trợ người nghèo từng bước tiếp cận dịch vụ xã hội chất lượng cao; giảm nguy cơ rủi ro cho người nghèo, nhất là rủi ro do thiên tai, do cơ chế thị trường, sự tác động của các cú sốc từ bên ngoài và những bất trắc trong cuộc sống (ốm đau, bệnh tật, tai nạn…); tập trung nguồn lực cho các vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao thông qua chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững .

Phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân. Xây dựng hệ thống BHXH hoàn chỉnh, đa dạng, theo nguyên tắc đóng – hưởng, bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; Khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm tự nguyện khác, nhất là doanh nghiệp thực hiện bảo hiểm hưu trí theo cơ chế thỏa thuận, từng bước cho phép khu vực tư nhân tham gia thực hiện bảo hiểm hưu trí.

Ổn định và từng bước cải thiện đời sống đối tượng trợ giúp xã hội, tạo điều kiện và cơ hội cho đối tượng hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng. Điều chỉnh chế độ trợ cấp xã hội dựa trên cơ sở mức sống tối thiểu của toàn xã hội và đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích sự nỗ lực vươn lên của bản thân đối tượng; chủ động phòng tránh thiên tai, tác động của biến đổi khí hậu; đa dạng hóa các loại hình trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội, chuyển mạnh sang cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và chăm sóc đối tượng dựa vào cộng đồng; tạo cơ hội và ưu tiên cho các đối tượng chính sách xã hội tiếp cận nguồn lực kinh tế để tự vươn lên hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng

  1. Bảo vệ và chăm sóc tốt trẻ em

Bảo đảm quyền cơ bản cho trẻ em trong phát triển (thể chất và tinh thần); tập trung nguồn lực bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; nhất là phòng ngừa và giải quyết trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực, trẻ em lao động sớm; ưu tiên hỗ trợ bảo vệ và chăm sóc trẻ em vùng nông thôn nghèo và khó khăn, vùng dân tộc, miền núi; phát triển mạnh hệ thống dịch vụ hỗ trợ bảo vệ và chăm sóc trẻ em .

  1. Thực hiện bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giảm và thu hẹp dần khoảng cách giới

Đảm bảo trên thực tế sự bình đẳng giới trong mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; thu hẹp khoảng cách giới, xóa bỏ định kiến về giới; tập trung nguồn lực và sự chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới trong những ngành, khu vực và vùng có sự bất bình đẳng và nguy cơ bất bình đẳng giới cao.

  1. Tiếp tục kiềm chế phát triển, đẩy lùi và hạn chế tác hại của tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma tuý, mại dâm

Nâng cao nhận thức về định hướng giá trị và chuẩn mực xã hội, lối sống lành mạnh của con người mới, nhất là trong thanh thiếu niên để không sa vào tệ nạn xã hội, bắt đầu từ gia đình, đến nhà trường và cộng đồng, toàn xã hội; nhân rộng các mô hình hiệu quả chữa trị, cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng các đối tượng nghiện ma túy, mại dâm. Áp dụng các giải pháp kinh tế – xã hội sau cai nghiện, nhất là quản lý chặt đối tượng, dạy nghề, lao động trị liệu, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, hòa nhập cộng đồng; thực hiện tốt cuộc vận động “xây dựng xã/phường lành mạnh không có tệ nạn xã hội; tăng cường quản lý Nhà nước trên từng địa bàn (xã, phường), phát hiện, nắm chắc và quản lý chặt đối tượng.

3.3. Giải pháp

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, luật pháp và nâng cao năng lực lãnh đạo, đổi mới cơ chế quản lý. Bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách hiện hành cho phù hợp với điều kiện mới; sửa đổi cơ bản Bộ Luật Lao động và các Luật BHXH, Luật Dạy nghề và Luật Người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; xây dựng luật tiền lương tối thiểu, Luật Việc làm, Luật Bảo hộ lao động, Luật Người cao tuổi, Luật Người tàn tật…

Hai là, tăng nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực lao động, người có công và xã hội. Tăng đầu tư ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực lao động, người có công và xã hội lên mức 30% vào năm 2020; hình thành, quản lý, sử dụng hiệu quả các quỹ xã hội và huy động từ cộng đồng đạt mức 35% – 40% trong tổng quỹ.

Ba là, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ lĩnh vực lao động (dạy nghề, dịch vụ giới thiệu việc làm, quan hệ lao động, kiểm định thiết bị an toàn..), người có công (cơ sở nuôi dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng) và xã hội (cơ sở bảo trợ xã hội, cai nghiện, chữa bệnh – giáo dục – lao động xã hội…).

Bốn là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế đa phương, song phương và phi chính phủ (về kỹ thuật; trao đổi kinh nghiệm, đào tạo cán bộ; tiếp nhận viện trợ ODA, nhân đạo…) và nâng cao hiệu quả hội nhập.

Năm là, vận dụng cơ chế thị trường gắn liền với bảo đảm và nâng cao tính định hướng XHCN. Xác định một số hoạt động dịch vụ công do Nhà nước làm; ủy thác cho đối tác xã hội thực hiện cung cấp dịch vụ công trong một số lĩnh vực; xác định một số hoạt động dịch vụ cho phép khu vực tư nhân thực hiện dưới sự quản lý của Nhà nước (dạy nghề, xuất khẩu lao động, giới thiệu việc làm, cai nghiện…).