Kết quả năm 2014 về thực hiện nghị quyết số 70/nq-cp về chương trình hành động của chính phủ thực hiện nghị quyết số 15/nq-tw về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020

Print Friendly

Mục tiêu nghiên cứu

Cập nhật hàng năm tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết số 70/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 15/NQ-TW ngày 1/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.

Những phát hiện chính

Một số kết quả chủ yếu

  • Trong năm 2014, các Bộ, ngành và địa phương đã tiếp tục triển khai Nghị quyết 15-NQ/TW. Đã ban hành 38 văn bản, chính sách, bao gồm: ưu đãi người có công với cách mạng (4), việc làm (3), giảm nghèo (8), bảo hiểm xã hội (3), trợ giúp xã hội (6), giáo dục đào tạo (4), y tế (6), nhà ở (3), nước sạch vệ sinh môi trường (1).
  • Các mục tiêu thực hiện chính sách ưu đãi người có công và chính sách an sinh xã hội năm 2014 cơ bản hoàn thành. Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận người có công, người nghèo, dân tộc thiểu số và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tiếp tục được cải thiện.
  • Ngân sách nhà nước đã được ưu tiên cân đối, bảo đảm kinh phí triển khai thực hiện đa số chính sách ưu đãi người có công và chính sách ASXH.

Hạn chế

  • Chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người có công triển khai chậm. Đời sống của một bộ phận người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn rất khó khăn.
  • Kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, chênh lệch giàu – nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư có xu hướng gia tăng.
  • Tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp tăng chậm, không đạt được mục tiêu của Nghị quyết 15-NQ/TW.
  • Chậm triển khai thực hiện Nghị định 136/2013/NĐ-CP về trợ giúp XH.
  • Chất lượng phổ cập giáo dục còn chênh lệch, đặc biệt với nhóm trẻ em dân tộc thiểu số, hộ nghèo và vùng đặc biệt khó khăn; tuyển sinh cao đẳng nghề, trung cấp nghề gặp nhiều khó khăn.
  • Vẫn còn khoảng 30% dân số chưa tham gia bảo hiểm y tế.
  • Chậm triển khai chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.
  • Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn quốc gia còn thấp.
  • Nguyên nhân: Nguồn lực thực hiện các chính sách xã hội còn hạn hẹp, nguồn vốn một số chương trình không được bố trí kịp thời và đầy đủ theo kế hoạch; mức độ tuân thủ chính sách chưa cao (đặc biệt là bảo hiểm xã hội bắt buộc); công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách về an sinh xã hội ở một số địa phương còn yếu; hình thức thông tin, tuyên truyền còn đơn điệu, kém hiệu quả.

Giải pháp, khuyến nghị

  • Tiếp tục triển khai tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và an sinh xã hội.
  • Xây dựng và trình Quốc hội ban hành các Luật trong lĩnh vực an sinh xã hội (Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng).
  • Đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 15/NQ-TW đến 2015, đặc biệt là tỷ lệ dân số đạt trình độ phổ thông trung học; tỷ lệ sinh viên trên 1 vạn dân; tỷ lệ lao động qua đào tạo; tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh và tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế.
  • Điều chỉnh mục tiêu tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội xuống còn 21,3%, tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp xuống còn 17%.

2014 – PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương và nhóm nghiên cứu