Các giải pháp nâng cao chất lượng lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Print Friendly

Mục Tiêu

  • Nghiên cứu những vấn đề lý luận: Căn cứ khoa học, pháp lý và thực tiễn về nâng cao chất lượng lực lượng lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao và hoạt động của thị trường lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao đối với phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta; Xác định rõ nội hàm các khái niệm cơ bản, phân loại, phân tích các chức năng, cơ cấu và nội dung đào tạo, quản lý, sử dụng, đánh giá đãi ngộ lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao; Nghiên cứu tổng quan và kinh nghiệm của một số nước trong đào tạo, quản lý, sử dụng, đánh giá đãi ngộ lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao trong thời kỳ hội nhập nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm áp dụng cho thực tiễn Việt Nam.
  • Đánh giá thực trạng chất lượng lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao ở Việt Nam, phân tích tính chất, quy mô, đặc trưng, các nhân tố tác động và ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao, những kết quả đạt được và những hạn chế, nguyên nhân của tình trạng; Đánh giá khung khổ pháp lý, thể chế, chính sách và những yếu tố của thị trường lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao về các mặt cung, cầu, di chuyển lao động và kết nối cung- cầu, thu nhập và tỷ lệ hoàn trả, điều kiện làm việc, quan hệ lao động; Cơ hội, thách thức và những vấn đề đặt ra đối với nâng cao chất lượng lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao ở nước ta trong điều kiện của một nền kinh tế chuyển đổi, toàn cầu hoá và khoa học – công nghệ thay đổi nhanh chóng.
  • Dự báo xu hướng về thị trường lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao ở Việt Nam và diễn biến về đào tạo, sử dụng, đánh giá đãi ngộ và quản lý lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao trước những thách thức để trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
  • Xây dựng quan điểm, mục tiêu, định hướng và đề xuất hoàn thiện thể chế, chính sách, giải pháp, chương trình hành động của các cơ quan nhà nước, đối tác xã hội và toàn thể cộng đồng để nâng cao chất lượng LĐCMKTTĐC; Đề xuất cách thức huy động và phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực hiện và điều kiện phát triển thị trường lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao để nâng cao chất lượng LĐCMKTTĐC và năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam giai đoạn đến năm 2020.

Những phát hiện chính

  • Quy mô đào tạo lớn và tăng nhanh do tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn cao, yêu cầu giải quyết việc làm hàng năm cho khoảng 1,0 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động và khoảng 200-300 ngàn lao động khu vực nông nghiệp dôi dư đòi hỏi phải đào tạo nghề để chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm.
  • Các nguồn lực còn hạn chế, trong khi phải nhanh chóng nâng cao trình độ, chất lượng nhân lực để đáp ứng những yêu cầu mới xây dựng đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá.
  • Những yếu tố mới tác động tiêu cực đến thể lực và phát triển thể chất, tầm vóc của nhân lực (môi trường sống ô nhiễm, các bệnh dịch mới, tai nạn giao thông, điều kiện lao động thấp kém và những thói quen xấu trong sinh hoạt…) xuất hiện ngày càng nhiều với tần xuất và cường độ ngày càng cao.
  • Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng nhanh và sẽ tập trung ngày càng nhiều vào các các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao đi kèm với luồng lao động là người nước ngoài nhập cư đòi hỏi nhân lực Việt Nam phải nhanh chóng nâng cao trình độ để đáp ứng.
  • Mở rộng, tăng cường ứng dụng khoa học-công nghệ mới (thông qua thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đầu tư mới của các doanh nghiệp lớn trong nước) làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới, trình độ chuyên môn và kỹ năng lao động mới, đòi hỏi phải tổ chức đào tạo để đáp ứng yêu cầu.
  • Dự báo xu hướng cho thấy, về cơ bản LĐCMKTTĐC nước ta sẽ được cải thiện về thể lực, trí lực, tâm lực để đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấ nước. Lao động có trình độ cao đẳng nghề vào các năm 2015 và 2020 lần lượt là 0,8 triệu và 1,8 triệu. Lao động hệ giáo dục có trình độ cao đẳng, đại học trở lên có khoảng 4,5 triệu người và là 6,7 triệu người vào năm 2020. Tổng nhu cầu về LĐCMKTTĐC năm 2020 là 8,53 triệu (lao động có trình độ cao đẳng nghề 1,8 triệu; cao đẳng 1,4 triệu; đại học trở lên 5,33 triệu người), nền kinh tế cần khoảng 13,6% LĐCMKTTĐC trong tổng việc làm. Điều này nghĩa là phải tăng trên gấp đôi số LĐCMKTTĐC hiện nay (tăng thêm hơn 4,3 triệu người), mỗi năm tăng 400-500 nghìn người, tốc độ tăng khoảng 11-12%/năm.

Giải pháp, khuyến nghị

  • Các nhóm giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng LĐCMKTTĐC cần được thiết kế đồng bộ, từ nâng cao nhận thức, đổi mới quản lý Nhà nước về đào tạo, sử dụng lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao và hoàn thiện khung khổ pháp lý cho thị trường lao động hoạt động hiệu quả, đến xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng LĐCMKTTĐC có tính so sánh quốc tế.
  • Về phía cầu LĐCMKTTĐC, cần thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế và nâng cao trình độ khoa học-công nghệ của sản xuất.
  • Về phía cung LĐCMKTTĐC, cần tập trung cải cách hệ thống giáo dục-đào tạo-dạy nghề và xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh đào tạo tại doanh nghiệp/tổ chức, gắn đào tạo với sử dụng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ và tập trung tăng cường thể lực và nâng cao tầm vóc của nhân lực. Trước hết cần ưu tiên đầu tư vào các “Trụ cột phát triển” với các giải pháp đột phá cho đội ngũ công chức, cán bộ khoa học-công nghệ; giảng viên đại học và dạy nghề; doanh nhân và đội ngũ công nhân kỹ thuật trình độ cao.

Điều kiện thực thực hiện

  • Cần có ý chí, quyết tâm của cả hệ thống chính trị và sự tập trung trong chiến lược phát triển.
  • Đảm bảo vốn đầu tư cho phát triển lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao, đẩy mạnh xã hội hoá để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực và đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phát triển lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao cũng là những điều kiện không thể thiếu.
  • Các chương trình lớn của quốc gia nhằm phát triển và nâng cao chất lượng lao động chuyên môn kỹ thuật trình độ cao đến năm 2020 bao gồm:
  • Đổi mới đào tạo và chính sách sử dụng cán bộ, công chức;
  • Xây dựng chương trình đào tạo và chính sách trọng dụng nhân tài;
  • Xây dựng chương trình dạy và ứng dụng ngoại ngữ và tin học trong hệ thống giáo dục quốc dân.

2014, PGS. TS Nguyễn Bá Ngọc và nhóm nghiên cứu