An sinh xã hội ở Việt Nam: Những thành tựu, thách thức và định hướng phát triển

Print Friendly

I. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Ở Việt Nam, bảo đảm an sinh xã hội luôn được coi là nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước và toàn xã hội. Với mục tiêu đến năm 2020, cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm để người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội và bảo đảm hỗ trợ kịp thời những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu thập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo…), góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân. Đặc biệt, tại Điều 34 Hiến pháp năm 2013 đã chính thức tuyên  bố về quyền an sinh xã hội của người dân.

Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay gồm 4 nhóm cơ bản: (1) Nhóm chính sách việc làm đảm bảo thu nhập tối thiểu và giảm nghèo: hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro thông qua tham gia thị trường lao động để có được việc làm tốt, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững; (2) Nhóm chính sách bảo hiểm xã hội: hỗ trợ người dân giảm thiểu rủi ro khi bị ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già…thông qua tham gia BHXH để chủ động bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro trên; (3) Nhóm chính sách trợ giúp xã hội, bao gồm chính sách trợ cấp thường xuyên và trợ cấp đột xuất. (4) Nhóm chính sách dịch vụ xã hội cơ bản, giúp người dân tiếp cận các dịch vụ cơ bản về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin truyền thông.

Các mục tiêu cụ thể của hệ thống ASXH:

a) Hướng tới việc làm bền vững

Bộ Luật lao động sửa đổi (2012): Đảm bảo phát triển thị trường lao động, tăng cường sự tham gia của các đối tác (Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức môi giới trung gian và người lao động); Tăng cường hỗ trợ của Nhà nước đối với người lao động yếu thế thông qua các chính sách hỗ trợ tạo việc làm.

 Luật việc làm (2013): bao gồm cả khu vực kinh tế phi chính thức, tạo điều kiện hỗ trợ lao động nghèo, lao động nông thôn, người thất nghiệp và tăng cường cơ hội việc làm cho lao động khu vực phi chính thức.

b) Tăng cường trợ giúp xã hội cho người có hoàn cảnh đặc biệt

Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội (TGXH) không ngừng mở rộng, bao phủ các nhóm đối tượng từ trẻ sơ sinh đến người già; hỗ trợ không chỉ người nghèo mà còn mở rộng sang các đối tượng khác như: người cao tuổi (Luật Người cao tuổi 2009), Người khuyết tật (Luật Người khuyết tật 2010), Trẻ em (Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em sửa đổi năm 2016),. .. Mức trợ cấp được điều chỉnh tăng dần qua từng thời kỳ. Nguồn lực thực hiện chính sách TGXH đa dạng, kết hợp ngân sách trung ương, địa phương và của xã hội. Các hình thức trợ giúp ngày càng đa dạng, bao gồm tiền mặt hàng tháng, tiền nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội; hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch…

c) Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi (năm 2014): Mở rộng diện tham gia BHXH bắt buộc đối với người lao động làm việc có hợp đồng từ 1 tháng trở lên; tăng cường chế tài đối với việc trốn đóng bảo hiểm xã hội; hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện theo hướng linh hoạt và phù hợp với điều kiện về việc làm và thu nhập của lao động trong khu vực phi chính thức; hỗ trợ, khuyến khích người lao động nghèo, khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội; hiện đại hóa công tác quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.

Luật việc làm (năm 2013): mở rộng cơ hội cho người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp (mọi lao động làm việc trong các doanh nghiệp có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên đều bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp). 

d) Hướng tới giảm nghèo toàn diện và bền vững

Chính sách giảm nghèo tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tăng cường hỗ trợ người nghèo toàn diện; tập trung giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số, các vùng nghèo, huyện nghèo; cải cách, đổi mới thể chế chính sách, nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình giảm nghèo; cải cách quản lý, thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững.  

II. NHỮNG THÀNH TỰU

Nguồn lực dành cho ASXH và giảm nghèo được tăng cường đầu tư từ NSNN và các nguồn lực khác. Năm 2015, ước tính tổng chi cho ASXH đạt 307,03 nghìn tỷ đồng ( tăng 47,2 nghìn tỷ so với năm 2014), chiếm 6,61% GDP (tăng 0,3 điểm % so với năm 2014).

  1. Về an sinh xã hội

– Về giải quyết việc làm: Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề mỗi năm đã tạo việc làm cho khoảng 320.000 người; nhiều người khuyết tật, người dân tộc, người ở vùng bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã được vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm. Năm 2015, đã giải quyết việc làm cho 1.625.000 người (1.510.000 việc làm trong nước và trên 110.000 việc làm có thời hạn ở nước ngoài); Tỷ trọng lao động Nông–lâm nghiệp–thủy sản giảm còn 42,54%; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động duy trì ở mức thấp, 2,31% (khu vực thành thị là 3,29%; của thanh niên là 6,85%).

–  Về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp: Đến cuối năm 2015, có 12.166.000 lao động (chiếm 24,1% lực lượng lao động) tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó, BHXH bắt buộc có 11.912.000 người và BHXH tự nguyện có 254.000 người. Tổng số người được hưởng các chế độ BHXH hàng tháng là 2,8 triệu người. Đến cuối năm 2015, có 10.185 nghìn người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chiếm 20,2% lực lượng lao động. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đã chi 4.800 tỷ đồng cho hơn 600 nghìn người.

– Về trợ giúp xã hội cho người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: năm 2015, trợ cấp tiền mặt hàng tháng và cấp thẻ BHYT cho trên 2.643 nghìn đối tượng (37.348 trẻ mồ côi, 88.594 người đơn thân nuôi con thuộc hộ nghèo, 1.480 nghìn người trên 80 tuổi, 896.644 người khuyết tật, 69.257 gia đình, cá nhân chăm sóc đối tượng BTXH tại cộng đồng, 8.185 người nhiễm HIV thuộc hộ nghèo). Chính phủ đã hỗ trợ hơn 31 nghìn tấn gạo cứu đói cho gần 2,1 triệu lượt người ở 21 tỉnh, tập trung ở  Nghệ An, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, Bình Định, Quảng Bình; 

Hiện nay, cả nước có 408 cơ sở trợ giúp xã hội nuôi dưỡng, chăm sóc trên 41,4 nghìn đối tượng, trong đó số đối tượng bị khuyết tật, tâm thần chiếm 56,5%. Tính chung, khoảng 3% dân số được trợ giúp xã hội, trong khi  nhu cầu trợ giúp xã hội chiếm 20% dân số.

– Về đảm bảo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản:

+ Về giáo dục: Đến 2015, tỷ lệ trẻ 5 tuổi học mầm non đạt 97,93%; trẻ dưới 4 tuổi học mầm non đạt 86,61%; đi học tiểu học đúng tuổi đạt 98,69%, đi học trung học cơ sở đúng tuổi đạt 90,89%; đạt trình độ phổ thông trung học là 62%; tỷ lệ trẻ khuyết tật đi học đạt 60%; tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân đạt 250 người; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 tuổi trở lên đạt 99%. Đến cuối năm 2015, cả nước có 1467 cơ sở dạy nghề (190 trường cao đẳng nghề; 280 trường trung cấp nghề; 997 trung tâm dạy nghề và hơn 1 nghìn cơ sở có dạy nghề); tuyển sinh gần 2 triệu người; hỗ trợ khoảng 550 nghìn người học nghề. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 51%, trong đó qua đào tạo nghề đạt 38,5%.

+ Về y tế: Đến 2015, có 98,4% số xã có trạm y tế; 96,0% số thôn bản có nhân viên y tế, có 80% số xã có bác sỹ, 50,0% số xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã; trên 95% số xã có y sỹ sản nhi hoặc nữ hộ sinh; BHYT đã chi trả chi phí để phụ nữ khi có thai được khám thai, sinh đẻ tại các cơ sở y tế. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em thể nhẹ cân còn khoảng 14,1%; thể thấp còi còn 24,2%; tỷ lệ tử vong bà mẹ giảm xuống 58,3 trên 100.000 trẻ đẻ sống, giảm tử vong trẻ em dưới 1 tuổi xuống 14,7‰. Tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai ít nhất 3 lần đạt trên 90%, tỷ lệ phụ nữ đẻ do cán bộ y tế qua đào tạo đỡ đạt 98%, tỷ lệ bà mẹ và trẻ sơ sinh được chăm sóc tuần đầu sau sinh đạt 81%. Đến cuối 2015, có gần  70 triệu người tham gia BHYT, chiếm gần 76% dân số, trong đó, số người thuộc hộ nghèo và DTTS là 11.796.000 người, số thuộc hộ cận nghèo là 2.992.000 người.

+ Về nhà ở: đến năm 2015, Nhà nước đã hỗ trợ 7.600 hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng tránh bão lụt tại 7 tỉnh vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; Chương trình phát triển nhà ở xã hội dành cho công nhân khu công nghiệp đã xây dựng 28.550 căn hộ và đang tiếp tục triển khai xây dựng 69.300 căn hộ; Chương trình nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị đã xây dựng 25.850 căn hộ; tiếp tục triển khai xây dựng khoảng 61.290 căn hộ; Chương trình nhà ở cho học sinh, sinh viên được đầu tư bằng trái phiếu chính phủ đã bố trí nhà ở cho 200.000 sinh viên, đạt tỷ lệ bình quân 80% nhu cầu.

+ Bảo đảm nước sạch: Đến hết 2015 đã xây dựng được hơn 1000 công trình nước sạch tập trung, nâng tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh lên 86%, được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế đạt 45%.

+ Bảo đảm thông tin: Sau hơn 3 năm thực hiện, tỷ lệ xã có điểm truy cập điện thoại công cộng là 97%; có đường truyền cáp quang đến xã đạt 96%; có đường truyền cáp đồng đạt 90%. Mạng lưới bưu chính được duy trì với khoảng 16.000 điểm giao dịch, trong đó có khoảng 7.640 điểm bưu điện văn hóa xã. Chương trình tăng cường nội dung thông tin và truyền thông về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo đã phát sóng 4.195 chương trình phát thanh, truyền hình; đặt hàng các nhà xuất bản sáng tác, xuất bản, in và phát hành 1.327.631 bản sách chuyên đề cung cấp và quảng bá đến các xã; tổ chức sáng tác, xuất bản và in, phát hành và quảng bá 1.378.933 ấn phẩm truyền thông phổ biến kiến thực về nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe; thiết lập 7 cụm thông tin đối ngoại tại khu vực cửa khẩu quốc tế; Cấp miễn phí 24 loại ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiếu số, miền núi, vùng đặc biệt khó khăn với trên 40 triệu ấn phẩm.

2 – Chính sách giảm nghèo

Xoá đói, giảm nghèo luôn luôn được Chính phủ coi là một nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Công cuộc giảm nghèo đã huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị vào hỗ trợ toàn diện cho người nghèo, nhất là đối với người nghèo ở những vùng nghèo nhất, vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số. Việc giảm nghèo được thực hiện đồng thời ở các cấp: cá nhân, hộ gia đình, xã và huyện để hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất; tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở và nước sinh hoạt; tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã đặc biệt khó khăn.

Poverty rate 2010- 2014 (%)

2010 2011 2012 2013 2014
VietNam 14,20 11,76 9,60 7,80 5,97
North- East Region 24,62 21,01 17,39 14,81 11,96
North-West Region 39,16 33,02 28,55 25,86 22,76
Red River Delta 8,30 6,50 4,89 3,63 2,57
North Central 22,68 18,28 15,01 12,22 9,26
South Central 17,26 14,49 12,20 10,15 8,00
Central Highland 22,48 18,47 15,00 12,56 10,22
South East 2,11 1,70 1,27 0,95 0,66
Mekong River Delta 13,48 11,39 9,24 7,41 5,48

Một số kết quả cụ thể năm 2015 như sau:

– Chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo: đã bố trí 13.500 tỷ đồng để mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi và 1.600 tỷ đồng để hỗ trợ mua thẻ BHYT cho người thuộc hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên.

– Chính sách hỗ trợ học sinh nghèo về giáo dục-đào tạo: ngân sách Trung ương bố trí gần 7.000 tỷ đồng để thực hiện chính sách miễn giảm học phí cho học sinh nghèo, trợ cấp học bổng cho học sinh dân tộc thiểu số, học sinh bán trú và trường dân tộc bán trú nhằm giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, tăng tỷ lệ trẻ em đến trường.

– Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số: ngân sách nhà nước bố trí 950 tỷ đồng hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho trên 43 nghìn hộ, hỗ trợ trực tiếp đất sản xuất cho trên 11 nghìn hộ, hỗ trợ chuyển đổi nghề, mua sắm máy móc nông cụ cho trên 7 nghìn hộ…

– Chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động: ngân sách nhà nước bố trí 547 tỷ đồng để hỗ trợ người nghèo tham gia đào tạo nghề, xuất khẩu lao động…cho hơn 9.500 lao động thuộc các huyện nghèo được hỗ trợ đào tạo nghề, giáo dục định hướng và đi làm việc ở nước ngoài.

– Chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo: NSNN đã bố trí 200 tỷ đồng để thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở phòng tránh bão lụt ở 14 tỉnh miền Trung. Tổng số vốn huy động đạt 12.653 tỷ đồng (ngân sách Trung ương 33%, ngân sách địa phương 6%, ngân hàng chính sách xã hội 28% và 33% từ các nguồn khác).

– Chính sách tín dụng ưu đãi: Ngân hàng CSXH đã cho vay hơn 8,4 triệu khách hàng, với tổng dư nợ đạt 140.780 tỷ đồng, trong đó: hộ nghèo (đạt 36.480 tỷ đồng, chiếm 25,9%); hộ cận nghèo (đạt 27.187 tỷ đồng, chiếm 19,3%); học sinh, sinh viên (đạt 24.672 tỷ đồng, chiếm 17,5%); cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn (đạt 15.359 tỷ đồng, chiếm 10,9%); nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn (đạt 19.889 tỷ đồng, chiếm 14,1%); hộ mới thoát nghèo (đạt 2.916 tỷ đồng, chiếm 2%)[1].

 – Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo: đã bố trí 14,8 tỷ đồng để thực hiện trợ giúp miễn phí cho khoảng 100 nghìn lượt người nghèo với các hình thức hỗ trợ đa dạng (tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, cấp phát miễn phí tờ rơi, băng đĩa pháp luật…)

– Chính sách hỗ trợ tiền điện: đã bố trí 1.900 tỷ đồng để hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội.

– Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo vùng khó khăn: ước thực hiện 542 tỷ đồng, đạt 97% kế hoạch cho 57 tỉnh (34 tỉnh hỗ trợ bằng tiền mặt, 5 tỉnh hỗ trợ bằng hiện vật và 18 tỉnh bằng cả hai hình thức).

Ngoài ra, Chính phủ còn đầu tư nguồn lực để cải thiện cơ sở hạ tầng các thôn, bản, xã và huyện nghèo. Hàng năm bố trí từ 3.000-4.000 tỷ đồng, trong đó tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất, góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng đời sống của người dân ở các huyện nghèo, các xã, thôn, bản, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, vùng dân tộc và miền núi. Tiếp tục Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo và Dự án nâng cao năng lực, truyền thông và giám sát đánh giá thực hiện.

Năm 2015, đánh dấu bước tiến quan trọng bằng việc Chính phủ phê duyệt chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 theo phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều, góp phần đo lường, đánh giá và thiết kế chính sách giảm nghèo ngày một hiệu quả hơn. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,2% năm 2010 xuống 4,5% năm 2015. Điều kiện sống của người nghèo đã được cải thiện không chỉ đối với các hộ có thu nhập sát với chuẩn nghèo mà cả với hộ nghèo hơn. Năm 2006, thu nhập bình quân của hộ nghèo thấp hơn so với chuẩn nghèo khoảng 4,7%, giảm xuống còn 3% vào năm 2014; mức độ trầm trọng về nghèo đói cũng giảm từ 13,7% năm 2006 xuống còn 10,5% vào năm 2014[2].

III. MỘT SỐ THÁCH THỨC

– Về thực hiện các chính sách an sinh xã hội chung:

Một là, phương pháp tiếp cận phát triển chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo còn chưa được thiết kế hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc bảo đảo “quyền” của người dân. Các chính sách được xây dựng dựa vào ngân sách nhà nước. Khả năng huy động nguồn lực từ các nhóm xã hội chưa cao.

Hai là, một số chỉ tiêu không hoàn thành so với mục tiêu như tỷ lệ việc làm trong nông nghiệp, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; một số chỉ tiêu về y tế, giáo dục; chỉ tiêu về tiếp cận nước sạch.

Ba là, chất lượng thực hiện các mục tiêu chưa cao, như: Chất lượng việc làm còn thấp; tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp còn cao; kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, chênh lệch giàu – nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư có xu hướng gia tăng; tỷ lệ tham gia BHXH, BHYT tăng chậm; chất lượng phổ cập giáo dục còn chênh lệch, đặc biệt với nhóm trẻ em dân tộc thiểu số, hộ nghèo và vùng đặc biệt khó khăn; tuyển sinh cao đẳng nghề, trung cấp nghề gặp nhiều khó khăn; vẫn còn gần 25% dân số chưa tham gia bảo hiểm y tế; chậm triển khai chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở; tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn quốc gia còn thấp.

Bốn là, hệ thống chính sách an sinh xã hội còn cồng kềnh, trùng chéo. Hiện có khoảng 233 văn bản chính sách do Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các Bộ ngành, cơ quan khác nhau ban hành và tổ chức thực hiện. Do quá nhiều chính sách, lại được ban hành ở nhiều giai đoạn khác nhau, áp dụng cho nhiều nhóm đối tượng, thiếu tính hệ thống, gây khó khăn cho việc áp dụng chính sách, quản lý đối tượng. Chủ trương tích hợp chính sách, lồng ghép chính sách cho cùng một nhóm hưởng thụ chưa thực hiện được.

Năm là, một số chương trình an sinh xã hội chưa thực sự hiệu quả. Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các chương trình trợ giúp xã hội còn phân tán về đối tượng, kinh phí, tổ chức thực hiện. Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách về ASXH ở một số địa phương còn yếu, hình thức thông tin, tuyên truyền chưa hiệu quả.

Sáu là,  bảo đảm an sinh tối thiểu cho người dân có nhiều thách thức. Phạm vi bao phủ của chính sách an sinh xã hội còn hẹp; thiếu tài chính và sự phân bố tài chính hợp lý giữa các chương trình; các công cụ, chính sách thiếu nhạy bén, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, cải cách kinh tế và biến đổi khí hậu.

Bảy là,  sự tham gia của cơ quan, đoàn thể và xã hội, huy động nguồn lực cho thực hiện chính sách chưa tốt, còn phân tán. Nhận thức về vai trò của an sinh xã hội của một số cấp uỷ, chính quyền, cán bộ, đảng viên, tổ chức, doanh nghiệp và người dân chưa đúng và chưa đầy đủ. Còn tư tưởng trông chờ vào Nhà nước, vào Trung ương về chính sách và kinh phí. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, luật pháp, thanh kiểm tra, giám sát việc thực hiện an sinh xã hội chưa được quan tâm đúng mức.  Công tác xã hội hóa, huy động sự tham gia đóng góp của khu vực tư nhân còn nhiều bất cập, chưa phát huy hết tiềm năng tham gia của người dân, doanh nghiệp và các đối tác xã hội.

Tám là, việc quản lý người dân tham gia ASXH chưa có hiệu quả: chưa có mã số an sinh xã hội của người dân, các chỉ tiêu đánh giá, giám sát chưa thống nhất, công tác kiểm tra, giám sát chưa được thực hiện thường xuyên.

– Riêng đối với các chính sách giảm nghèo còn có những thách thức sau:

Các chương trình tín dụng chưa bố trí vốn kịp thời, chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các đối tượng thụ hưởng.

Các chính sách thiết kế còn nặng về bao cấp, cho không, tạo tâm lý trông chờ, ỷ lại vào hỗ trợ của Nhà nước, chưa khuyến khích người nghèo tự vươn lên.

Công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành chưa nhịp nhàng, văn bản chính sách giảm nghèo còn trùng lắp, chồng chéo về nội dung và đối tượng.

Nguồn lực thực hiện chính sách còn hạn chế, phân tán, phân bổ chậm; cơ chế quản lý, giám sát việc bố trí, sử dụng nguồn vốn còn lỏng lẻo, trùng lắp, hiệu quả đối với đối tượng thụ hưởng chưa cao.

Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ tái nghèo cao (chiếm 1/3 số hộ thoát nghèo); tỷ lệ hộ nghèo ở một số huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc còn cao, trên 50%, cá biệt trên 60-70%.

Chênh lệch giàu-nghèo về thu nhập và tiếp cận dịch vụ xã hội giữa các vùng, nhóm dân cư có xu hướng gia tăng, nhất là giữa khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên và các khu vực còn lại; giữa người dân tộc thiểu số và người Kinh/Hoa.

Công tác xã hội hóa huy động nguồn lực địa phương, các doanh nghiệp, cộng đồng vào tham gia thực hiện chương trình, chính sách còn khó khăn; số lượng và trình độ cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế.

IV. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI

Tiếp tục cải cách thể chể kinh tế, cải cách doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng GDP trên 6,5%/năm để có thêm nguồn lực chi cho an sinh xã hội.

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền, cán bộ và người dân hiểu rõ những định hướng về phát triển xã hội trong tình hình mới, coi đây là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, lâu dài. Phối hợp tốt hơn với cơ quan Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể xã hội trong hoạt động truyên truyền, giáo dục và giám sát, đánh giá.

 Tiếp tục rà soát các chính sách xã hội hiện hành để hoàn thiện, sửa đổi và bổ sung theo hướng tinh gọn, tích hợp chính sách, thu gọn đầu mối quản lý; mở rộng quyền tham gia và thụ hưởng cho người dân đối với chính sách trợ giúp xã hội;

Tiếp tục phát triển thị trường lao động, phát triển việc làm bền vững; kết nối cung cầu lao động; phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu việc làm; tăng cường đối thoại lao động, bảo đảm tiêu chuẩn lao động; tăng cường đào tạo và phát triển kỹ năng cho người lao động, hoàn thiện chương trình đào tạo nghề cho nông dân nông thôn; triển khai chương trình việc làm công tạo thu nhập tạm thời ở mức tối thiểu cho lao động nghèo, người bị thất nghiệp.

Cải cách chính sách trợ giúp xã hội. Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội; có lộ trình tiếp tục giảm độ tuổi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, mở rộng chính sách trợ giúp xã hội đối với toàn bộ người nghèo, người cận nghèo, người dân tộc thiểu số; tiếp tục tăng mức hưởng trợ cấp thường xuyên, tách bách nhiệm vụ quản lý nhà nước với dịch vụ xã hội, dịch vụ chi trả; tích hợp chi trả một lần cho nhiều chính sách khác nhau đối với cùng nhóm đối tượng. Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp đột xuất; Tiếp tục tuyên truyền vận động và tổ chức tốt các phong trào tương thân, tương ái; mở rộng sự tham gia hỗ trợ của cộng đồng, bảo đảm người dân bị thiệt hại khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời.

Thực hiện có hiệu quả việc đổi mới chính sách giảm nghèo, từ tiếp cận đơn chiều (dựa vào thu nhập) sang đa chiều (dựa vào các yếu tố khác ngoài thu nhập); tập trung nguồn lực trước hết vào thực hiện ở những nơi khó khăn nhất, nghèo nhất để giảm nghèo bền vững.

Tiếp tục mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, tăng cường chế tài xử phạt không tuân thủ, hỗ trợ người lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội); thực hiện cải cách bảo hiểm xã hội để bảo đảm bền vững quĩ và hỗ trợ người nghèo tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp.

Bảo đảm chi ngân sách nhà nước về an sinh xã hội đạt mức trung bình khu vực Đông Nam Á (7% GDP). Tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài như ODA, các chương trình viện trợ không hoàn lại của nước ngoài, nguồn lực xã hội từ các doanh nghiệp, tổ chức và nhân dân, trong đó nguồn lực của Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

TS. Đào Quang Vinh

[1]Ước tính đến 31/12/2015, dư nợ cho vay các chương trình tín dụng chính sách ước đạt 142.456 tỷ đồng (bao gồm cả nguồn vốn nhận ủy thác tại địa phương).

[2] Tính toán theo kết quả Điều tra mức sống hộ gia đình của TCTK năm 2014.