An sinh xã hội cho dân tộc thiểu số – Tổng quan từ chính sách, nghiên cứu và dữ liệu sẵn có

07/07/2015 23:08:05

An sinh xã hội cho dân tộc thiểu số – Tổng quan từ chính sách, nghiên cứu và dữ liệu sẵn có

 

Những phát hiện chính

Mặt được

  • Hệ thống chính sách ASXH cho đồng bào DTTS hiện tương đối đầy đủ, toàn diện, nguồn lực đầu tư lớn, về cơ bản đã phát huy hiệu quả trong việc phát triển KTXH, giảm nghèo và nâng cao đời sống cho người dân vùng DTTS và miền núi.
  • Nhờ có các chương trình và chính sách phát triển KTXH, giảm nghèo nên ASXH của đồng bào DTTS những năm qua đã được cải thiện đáng kể. Việc làm của DTTS đang chuyển dịch tích cực, thu nhập của lao động làm công ăn lương tăng nhanh. Thu nhập bình quân của hộ DTTS tăng nhanh, tỷ lệ hộ nghèo giảm khá nhanh, từ 60% năm 2002 xuống còn 42,2% năm 2012. Tỷ lệ dân số đạt trình độ PTTH và qua đào tạo chính quy tăng nhẹ, tỷ lệ trẻ 5 tuổi học mầm non tăng mạnh, tỷ lệ trẻ đi học được miễn, giảm học phí cao; một số dân tộc đã cải thiện đáng kể tỷ lệ dân số biết chữ và tỷ lệ dân số có trình độ PTTH. Tỷ lệ người DTTS có thẻ BHYT hiện đạt khá cao và tăng nhanh, chủ yếu do Nhà nước hỗ trợ miễn phí. Tỷ lệ hộ DTTS sống trong nhà tạm đã giảm mạnh. Người DTTS ngày càng tiếp cận nhiều với thông tin khi tỷ lệ hộ sử dụng di động, tivi đang tăng nhanh.

Hạn chế

  • Chính sách ASXH cho DTTS còn chồng chéo về nội dung, đối tượng thụ hưởng và địa bàn thực hiện, nhiều chính sách chưa phù hợp, chưa đáp ứng đủ và chính xác nhu cầu người dân gây lãng phí và kém hiệu quả. DTTS chủ yếu tiếp cận các chính sách hỗ trợ trực tiếp như tín dụng ưu đãi, BHYT, miễn giảm học phí, nhà ở… Tỷ lệ được tiếp cận các chính sách mang tính đầu tư nhằm nâng cao trình độ CMKT, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp như dạy nghề, đi làm việc ở nước ngoài còn thấp và đang có xu hướng giảm.
  • Đồng bào DTTS vẫn đang phải đối mặt với những thách thức về nghèo đói, chất lượng việc làm kém, thu nhập thấp và các dịch vụ xã hội cơ bản chưa đáp ứng nhu cầu. Tỷ lệ nghèo của DTTS còn rất cao, vẫn còn 42% năm 2012. Người DTTS chỉ chiếm 15% dân số nhưng chiếm hơn ½ tổng số người nghèo cả nước. Giảm nghèo chưa đồng đều và bền vững, nhất là các dân tộc ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên. Thu nhập bình quân của người DTTS còn thấp, năm 2012 chỉ bằng 44% của người Kinh/Hoa. Khoảng cách về mức sống của DTTS và Kinh/Hoa ngày càng tăng dần theo thời gian. Chất lượng việc làm của DTTS còn kém: 81% là lao động nông nghiệp, 93% làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, thu nhập bình quân chỉ bằng 40% của lao động Kinh/Hoa. Chuyển dịch cơ cấu lao động đang theo hướng tích cực nhưng tốc độ còn chậm.

Tiếp cận với các dịch vụ xã hội tối thiểu của DTTS còn kém, nhất là các dân tộc H’mông, Dao, Gia rai. Chất lượng nguồn nhân lực DTTS còn thấp, chỉ có 1,7% lao động DTTS có trình độ đào tạo chính quy và 3,9% đã qua đào tạo nghề. Tiếp cận giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở mặc dù đã cải thiện đáng kể nhưng còn thấp; còn chênh lệch về giới trong giáo dục. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe còn hạn chế về nhận thức của người dân, chất lượng khám chữa bệnh, đội ngũ cán bộ y tế và dịch vụ y tế. Điều kiện nhà ở còn kém, còn 87,3% hộ DTTS sống trong nhà tạm và nhà bán kiên cố. Tình trạng sử dụng nước sinh hoạt không hợp vệ sinh còn phổ biến và chưa được cải thiện. Vẫn còn một bộ phận DTTS, nhất là các dân tộc ở vùng sâu, vùng cao như H’mông, Gia rai… chưa tiếp cận được thông tin như không có tivi, điện thoại…

Giải pháp, khuyến nghị

  • Cần đổi mới phương pháp tiếp cận trong xây dựng, thực hiện chính sách cho DTTS, chuyển từ phương pháp tiếp cận từ trên xuống sang cách tiếp cận từ dưới lên, từ “hỗ trợ” sang “đầu tư”; lồng ghép các vấn đề của DTTS trong các kế hoạch, chính sách quốc gia và của từng ngành.
  • Định kỳ thực hiện các phân tích, đánh giá về: năng lực quản lý rủi ro của đồng bào DTTS, hiệu quả của các chính sách ASXH hiện hành để kịp thời xác định các nhóm đối tượng bị tổn thương, mức độ rủi ro họ gánh chịu và xác định các chính sách ASXH hiện hành cần bổ sung, sửa đổi và xây dựng chính sách mới, nhằm đảm bảo hỗ trợ người DTTS kịp thời, hiệu quả và bền vững.
  • Tăng cường huy động và phân bổ nguồn lực thực hiện các chính sách ASXH cho DTTS; Thống nhất đầu mối quản lý các chương trình, chính sách ASXH cho DTTS kết hợp với đẩy mạnh việc phân cấp thực hiện.
  • Xây dựng hệ thống chỉ tiêu theo dõi, đánh giá, giám sát việc thực hiện các chính sách giảm nghèo, ASXH đối với DTTS và hệ thống cơ sở dữ liệu về DTTS.

Tăng cường năng lực và nâng cao vị thế của người DTTS để họ có thể đón nhận các cơ hội tiếp cận hệ thống ASXH ở mức tối tối thiểu.

2013 – ThS Lưu Quang Tuấn, ThS Đặng Đỗ Quyên, CN Nguyễn Thị Hải Yến

Tổ chức Hanns Seidel Foundation – HSF, CHLB Đức